Trang bị kỹ năng nghị trường cho đại biểu HĐND trong mô hình chính quyền 2 cấp
Chuyên đề “Kỹ năng giám sát và thảo luận, chất vấn của đại biểu HĐND” do Trưởng Ban Kinh tế– Ngân sách HĐND tỉnh Nguyễn Thị Thúy Nga truyền đạt, tập trung vào kỹ năng phát hiện vấn đề từ thực tiễn; phương pháp thảo luận, chất vấn tại kỳ họp; nâng cao hiệu quả giám sát và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Nguyễn Thị Thúy Nga truyền đạt chuyên đề
Trong hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân là người trực tiếp chuyển tải ý chí, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân vào quá trình xem xét, quyết định, giám sát ở địa phương. Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân vì vậy phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hoạt động của từng đại biểu.
Giám sát, thảo luận và chất vấn không phải là ba hoạt động tách rời, mà là ba kỹ năng gắn bó chặt chẽ trong quá trình thực hiện vai trò đại diện của đại biểu Hội đồng nhân dân. Giám sát giúp đại biểu phát hiện vấn đề và có căn cứ thực tiễn. Thảo luận giúp đại biểu đưa thông tin, lập luận và chính kiến vào quá trình xem xét, quyết định tại kỳ họp. Chất vấn giúp đại biểu yêu cầu người có trách nhiệm giải trình công khai về nguyên nhân, trách nhiệm, giải pháp và thời hạn khắc phục. Nói cách khác, đại biểu hoạt động thực chất phải đi được trọn vẹn một chu trình: nắm bắt thực tiễn, phát hiện vấn đề, đưa vào nghị trường, yêu cầu trách nhiệm và theo dõi kết quả. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay, khi không còn cấp huyện là tầng nấc trung gian, nhiều vấn đề từ cơ sở được chuyển tải trực tiếp hơn đến cấp xã và cấp tỉnh; chu trình này càng phải được thực hiện chặt chẽ hơn.
I. KỸ NĂNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Giám sát là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của đại biểu Hội đồng nhân dân. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025: “Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc Hội, Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước”. Khoản 3 Điều 2 của Luật này xác định đại biểu Hội đồng nhân dân là một trong các chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân.

Đại biểu tập trung giảng viên giảng bài
Từ quy định trên, cần hiểu đúng rằng giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân không phải là hoạt động tùy nghi, cũng không phải là sự quan tâm cá nhân đối với một vụ việc cụ thể. Đây là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ chế đại diện dân cử. Tuy nhiên, giám sát của đại biểu cũng không đồng nhất với thanh tra, kiểm tra hành chính, kiểm toán hay điều tra. Đại biểu không làm thay cơ quan quản lý nhà nước, không kết luận thay cơ quan chuyên môn, nhưng có quyền theo dõi, xem xét, yêu cầu cung cấp thông tin, kiến nghị xử lý và đôn đốc việc thực hiện kiến nghị theo thẩm quyền. Giám sát cần được coi là một động lực phát triển, nhằm ngăn chặn yếu kém, khuyết điểm, thúc đẩy cơ quan nhà nước hoàn thành nhiệm vụ, chứ không phải chỉ nhằm tìm tòi mặt chưa tốt của cơ quan chịu sự giám sát.
Về thẩm quyền, Điều 36 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định riêng về thẩm quyền và hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, hoạt động giám sát bao gồm chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương; tham gia hoạt động giám sát của các chủ thể khác khi có yêu cầu, đề nghị. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, hoạt động giám sát được thực hiện tương ứng ở cấp xã, trong đó có chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết ở địa phương.
Như vậy, phạm vi giám sát của đại biểu khá rộng, nhưng không vì thế mà đại biểu có thể giám sát dàn trải hoặc tùy tiện. Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đặt ra các nguyên tắc quan trọng: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Đây là giới hạn pháp lý, đồng thời cũng là yêu cầu phương pháp đối với đại biểu: giám sát phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trọng tâm và có căn cứ.
Để cụ thể hóa Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026). Đây là căn cứ quan trọng để đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động giám sát đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền, có kết luận, kiến nghị rõ ràng và có cơ chế theo dõi kết quả thực hiện. Vì vậy, kỹ năng giám sát của đại biểu không chỉ dừng ở việc phát hiện vấn đề, mà còn bao gồm kỹ năng lựa chọn nội dung giám sát, thu thập thông tin, xác định trách nhiệm, ban hành hoặc tham gia xây dựng kết luận, kiến nghị giám sát và theo dõi việc thực hiện sau giám sát.

Toàn cảnh lớp tập huấn
Kỹ năng đầu tiên trong giám sát là lựa chọn đúng vấn đề. Một vấn đề đưa vào giám sát phải xuất phát từ thực tiễn, có căn cứ, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và có khả năng tạo chuyển biến. Đại biểu không nên chọn vấn đề quá rộng, bởi phạm vi dàn trải sẽ làm giảm khả năng đi sâu vào bản chất vấn đề, khó xác định trách nhiệm và khó đưa ra kiến nghị cụ thể, khả thi. Ngược lại, vấn đề càng được xác định cụ thể thì càng thuận lợi cho việc thu thập thông tin, đánh giá kết quả thực hiện, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và theo dõi kết quả sau giám sát. Chẳng hạn, trong lĩnh vực đất đai, thay vì giám sát chung về “công tác quản lý đất đai”, đại biểu có thể lựa chọn một nội dung cụ thể hơn như việc giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trong một khoảng thời gian nhất định. Cách xác định này giúp hoạt động giám sát có trọng tâm, có căn cứ đánh giá và có khả năng đi đến kiến nghị rõ ràng.
Kỹ năng thứ hai là thu thập, xử lý và kiểm chứng thông tin. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo khoản 9 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Khoản 1 Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 cũng quy định chủ thể giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà chủ thể giám sát quan tâm.
Tuy nhiên, có quyền yêu cầu thông tin chưa đủ; điều quan trọng hơn là đại biểu phải biết dùng thông tin. Thông tin phục vụ giám sát cần được thu thập từ nhiều nguồn: báo cáo của cơ quan chịu sự giám sát, tài liệu kỳ họp, kết quả tiếp xúc cử tri, phản ánh của công dân, hồ sơ đơn thư, khảo sát thực tế, ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, chuyên gia, báo chí và dữ liệu quản lý nhà nước. Đại biểu cần phân biệt giữa phản ánh ban đầu và kết luận. Ý kiến cử tri là nguồn thông tin rất quan trọng, nhưng trước khi sử dụng để kiến nghị, thảo luận hoặc chất vấn, đại biểu cần kiểm chứng ở mức cần thiết: sự việc xảy ra ở đâu, thời điểm nào, liên quan đến cơ quan nào, đã được giải quyết đến đâu, còn vướng mắc gì, trách nhiệm thuộc về ai.

Kỹ năng thứ ba là xác định đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm. Trong thực tế, nhiều vấn đề ở địa phương liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều ngành. Nếu đại biểu nêu đúng vấn đề nhưng xác định sai thẩm quyền, hoạt động giám sát sẽ khó đạt hiệu quả. Vì vậy, trước mỗi nội dung giám sát, đại biểu cần làm rõ: việc này thuộc thẩm quyền quyết định của ai; cơ quan nào tham mưu; cơ quan nào tổ chức thực hiện; trách nhiệm của người đứng đầu ở đâu; nội dung nào thuộc thẩm quyền địa phương, nội dung nào phải kiến nghị cấp trên; trách nhiệm nào là trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm nào là trách nhiệm phối hợp. Đây là bước quyết định để sau đó đại biểu đặt câu hỏi đúng, kiến nghị đúng và theo dõi đúng.
Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, kỹ năng xác định thẩm quyền càng có ý nghĩa quyết định. Trước đây, nhiều nội dung quản lý nhà nước được xử lý qua cấp huyện; nay, khi cấp huyện không còn là cấp chính quyền trung gian, đại biểu phải nhận diện rõ việc nào thuộc trách nhiệm trực tiếp của cấp xã, việc nào thuộc thẩm quyền chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cấp tỉnh, việc nào đòi hỏi cơ chế phối hợp giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh với chính quyền cấp xã. Vì vậy, giám sát trong bối cảnh mới không chỉ là xem xét một việc đã làm đúng hay chưa, mà còn phải xem quy trình xử lý sau sắp xếp có thông suốt không, trách nhiệm có bị đứt đoạn không, nguồn lực ở cấp xã có đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ không và cơ chế phối hợp với cấp tỉnh có kịp thời, hiệu quả không.
Kỹ năng thứ tư là giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Theo Điều 36 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, giám sát văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân. Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là căn cứ trực tiếp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát về giám sát văn bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026). Khi thực hiện nội dung này, đại biểu cần chú ý phát hiện các dấu hiệu như văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, không đúng căn cứ pháp lý, có nội dung trái Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, không còn phù hợp thực tiễn hoặc gây khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện. Giám sát văn bản không chỉ là kỹ thuật pháp lý, mà còn là phương thức bảo đảm chính quyền địa phương hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, hạn chế tình trạng chính sách ban hành nhưng khó thực hiện hoặc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức.

Kỹ năng thứ năm là chuyển kết quả giám sát thành kiến nghị có khả năng thực hiện. Một kiến nghị giám sát không nên dừng ở các cụm từ chung chung như “đề nghị quan tâm”, “đề nghị tăng cường”, “đề nghị sớm khắc phục”. Kiến nghị của đại biểu cần rõ bốn yếu tố: cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm; nội dung phải thực hiện; thời hạn hoàn thành; phương thức báo cáo kết quả. Ví dụ, thay vì kiến nghị “đề nghị UBND xã xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu dân cư”, có thể kiến nghị: “Đề nghị UBND xã trong quý III năm 2026 tổ chức kiểm tra, xác định nguyên nhân ô nhiễm tại khu vực…, xây dựng phương án xử lý, thông báo công khai cho Nhân dân và báo cáo kết quả với Thường trực Hội đồng nhân dân tại phiên họp gần nhất”. Cách kiến nghị này cụ thể hơn, có địa chỉ thực hiện và có căn cứ để theo dõi.
Kỹ năng thứ sáu là theo dõi sau giám sát. Đây là khâu quyết định hiệu quả thực chất của giám sát. Điều 40 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định kết luận, kiến nghị giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh; đồng thời đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc, xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát; nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì yêu cầu báo cáo giải trình, trường hợp quá thời hạn mà không trả lời hoặc giải trình không thỏa đáng thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Như vậy, có thể rút ra một yêu cầu rất thực tế: giám sát không kết thúc khi đại biểu nêu vấn đề hoặc khi đoàn giám sát ban hành báo cáo. Giám sát chỉ có giá trị thực sự khi kiến nghị sau giám sát được thực hiện và tạo chuyển biến. Vì vậy, đại biểu cần có thói quen lập danh mục các kiến nghị đã nêu, xác định thời hạn trả lời, theo dõi nội dung trả lời, đánh giá mức độ giải quyết và tiếp tục đôn đốc đối với nội dung chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ. Những vấn đề chậm chuyển biến có thể tiếp tục được đưa vào thảo luận tại kỳ họp, đề nghị tổ chức giải trình hoặc chất vấn người có trách nhiệm.

Toàn cảnh lớp học
Trên cơ sở các kỹ năng cơ bản nêu trên, đại biểu Hội đồng nhân dân cần nắm chắc quy trình tổ chức một cuộc giám sát, khảo sát để vận dụng các kỹ năng đó vào thực tiễn. Sau khi đã xác định được nội dung giám sát, khảo sát, quy trình triển khai được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
Bước 1. Thành lập đoàn giám sát, khảo sát.
Đối với giám sát chuyên đề, chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định hoặc văn bản thành lập đoàn giám sát.
* Xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát
- Cơ quan chủ trì: Căn cứ vào chương trình giám sát hằng năm đã được HĐND thông qua, Ban của HĐND cấp xã phụ trách lĩnh vực liên quan sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát. (Quy định tại Điều 40 – Nghị quyết số 114 của UBTVQH)
- Báo cáo Thường trực: Ban của HĐND cấp xã báo cáo dự thảo nghị quyết này lên Thường trực HĐND cấp xã để Thường trực HĐND trình ra HĐND xem xét tại kỳ họp.
* Xem xét và thông qua Nghị quyết thành lập tại kỳ họp
HĐND cấp xã tiến hành xem xét và thông qua Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát. Theo quy định, văn bản nghị quyết này bắt buộc phải xác định rõ ràng các nội dung trọng tâm sau:
- Mục đích, phạm vi, đối tượng và nội dung giám sát.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
- Nhân sự lãnh đạo Đoàn: Trưởng Đoàn giám sát phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐND.
- Cơ cấu các thành viên khác tham gia Đoàn (bao gồm đại diện của Thường trực HĐND, Ban của HĐND và một số đại biểu HĐND cấp xã).
- Trách nhiệm của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Lưu ý về thành phần mở rộng: Trong quá trình thành lập, Đoàn giám sát có thể mời thêm đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chuyên đề giám sát cùng tham gia.
* Thường trực HĐND cấp xã phê duyệt nhân sự cụ thể
Sau khi nghị quyết khung được HĐND thông qua, Thường trực HĐND cấp xã sẽ có trách nhiệm:
- Quyết định danh sách thành viên cụ thể tham gia Đoàn giám sát.
- Thực hiện điều chỉnh thành phần nhân sự của Đoàn trong trường hợp cần thiết dựa trên đề nghị của Trưởng Đoàn giám sát.
Việc thành lập đoàn nhằm xác định rõ thành phần, trưởng đoàn, phó trưởng đoàn, thành viên đoàn, bộ phận giúp việc và trách nhiệm của từng người. Đây là cơ sở để phân công nhiệm vụ, thống nhất cách làm, chuẩn bị tài liệu, tổ chức khảo sát, điều hành cuộc làm việc và xây dựng báo cáo sau giám sát.
Bước 2. Xây dựng kế hoạch và đề cương giám sát, khảo sát.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐND cấp xã ban hành nghị quyết thành lập, Đoàn giám sát phải hoàn thành và thông báo:
- Kế hoạch giám sát chi tiết (xác định cụ thể nội dung trọng tâm).
- Đề cương báo cáo kết quả giám sát của Đoàn.
- Đề cương báo cáo dành cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và các bên liên quan.
(Thời gian để các đối tượng chịu sự giám sát xây dựng báo cáo gửi về Đoàn do Đoàn quyết định nhưng không được ít hơn 20 ngày kể từ ngày ban hành kế hoạch).
Kế hoạch cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi, đối tượng, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia, phương pháp tiến hành và trách nhiệm chuẩn bị. Đề cương giám sát cần nêu rõ những nội dung yêu cầu cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát báo cáo; số liệu, hồ sơ, tài liệu cần cung cấp; vấn đề cần giải trình; nội dung cần kiểm chứng qua khảo sát thực tế. Kế hoạch và đề cương càng cụ thể thì cuộc giám sát càng tránh được tình trạng nghe báo cáo chung chung, thiếu trọng tâm.
Sau khi kế hoạch, đề cương được ban hành gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và các đơn vị có liên quan để chuẩn bị báo cáo, hồ sơ, tài liệu. Báo cáo phải bám sát đề cương, nêu rõ kết quả thực hiện, hạn chế, nguyên nhân, trách nhiệm, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị. Đại biểu cần lưu ý: báo cáo là nguồn thông tin chính thức nhưng chưa phải là kết luận; báo cáo phải được nghiên cứu, đối chiếu và kiểm chứng.
Bước 3. Nghiên cứu báo cáo, hồ sơ, tài liệu trước khi làm việc.
Trước khi đi thực tế hoặc tổ chức cuộc làm việc, đại biểu và thành viên đoàn giám sát cần đọc kỹ báo cáo, rà soát căn cứ pháp lý, đối chiếu số liệu, xác định những điểm chưa rõ, những nội dung còn mâu thuẫn, những vấn đề cử tri phản ánh nhưng báo cáo chưa đề cập. Đây là bước chuẩn bị câu hỏi, nội dung cần trao đổi và vấn đề cần kiểm chứng khi khảo sát thực tế.
Bước 4. Khảo sát thực tế tại đối tượng, địa bàn giám sát.
Khảo sát thực tế giúp kiểm chứng báo cáo và nhận diện đúng bản chất vấn đề. Khi khảo sát, cần quan sát hiện trạng, trao đổi với người dân, cán bộ cơ sở, đơn vị liên quan; ghi nhận thông tin, hình ảnh, số liệu, hồ sơ (nếu có). Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, khảo sát thực tế còn giúp làm rõ vướng mắc phát sinh do năng lực thực hiện ở cấp xã, do hướng dẫn của cấp tỉnh chưa rõ, do phối hợp chưa thông suốt hay do quy định, thủ tục chưa phù hợp.
Bước 5. Tổ chức làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
Cuộc làm việc không nên chỉ dừng ở nghe báo cáo, mà phải tập trung làm rõ những vấn đề đã phát hiện qua nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực tế. Nội dung làm việc cần đi vào kết quả thực hiện, hạn chế, nguyên nhân, trách nhiệm, khó khăn, vướng mắc, giải pháp và thời hạn khắc phục. Câu hỏi tại cuộc làm việc cần ngắn gọn, có căn cứ, đúng trọng tâm; bảo đảm tinh thần thẳng thắn, khách quan, xây dựng.
Bước 6. Tổng hợp báo cáo, tài liệu và ý kiến tại các cuộc khảo sát, làm việc.
Sau khi kết thúc khảo sát và làm việc, cần tổng hợp đầy đủ thông tin đã thu thập được. Việc tổng hợp phải phân loại rõ: nội dung đã thống nhất; nội dung còn có ý kiến khác nhau; kết quả đạt được; hạn chế, bất cập; nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiến nghị của đơn vị chịu sự giám sát và nhận định của đoàn giám sát. Tổng hợp tốt là điều kiện để báo cáo giám sát có căn cứ, có trọng tâm và có kiến nghị khả thi.
Bước 7. Hoàn thiện báo cáo giám sát hoặc thông báo kết quả giám sát.
Báo cáo giám sát hoặc thông báo kết quả giám sát cần thể hiện rõ căn cứ giám sát, đối tượng, phạm vi, phương pháp tiến hành, kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, trách nhiệm, kiến nghị, giải pháp, thời hạn thực hiện và trách nhiệm báo cáo kết quả. Điểm quan trọng là kiến nghị sau giám sát phải rõ việc, rõ chủ thể thực hiện, rõ thời hạn và rõ cơ chế theo dõi. Nếu kiến nghị chỉ dừng ở mức “quan tâm”, “tăng cường”, “sớm khắc phục” thì rất khó kiểm tra kết quả thực hiện.
Đối với giám sát chuyên đề, có thể cụ thể hoá quy trình thực hiện bước này như sau:
- Xây dựng dự thảo báo cáo: Đoàn giám sát tổng hợp tình hình, xây dựng dự thảo báo cáo kết quả và dự thảo văn bản định hướng xử lý sau giám sát (Nghị quyết hoặc Kết luận).
- Trình bày tại phiên họp/kỳ họp chính thức: Trưởng Đoàn giám sát (hoặc đại diện Đoàn) trình bày báo cáo kết quả trước HĐND, Thường trực HĐND hoặc phiên họp Ban.
- Thảo luận và giải trình: Cơ quan tiến hành hoạt động giám sát thảo luận tập thể; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trình bày báo cáo giải trình, làm rõ thêm các vấn đề được chỉ ra.
- Ban hành văn bản pháp lý sau giám sát:
+ Thường trực HĐND / Ban HĐND: Biểu quyết thông qua Kết luận giám sát chuyên đề (Trường hợp chuyên đề do HĐND giao cho Thường trực/Ban thì Thường trực/Ban hoàn thiện hồ sơ trình HĐND xem xét ban hành Nghị quyết).
+ HĐND: Xem xét và biểu quyết thông qua Nghị quyết giám sát chuyên đề.
Nội dung bắt buộc phải có trong Nghị quyết/Kết luận sau giám sát: Đánh giá kết quả đạt được, chỉ rõ hạn chế, bất cập, nguyên nhân và trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân; đưa ra các giải pháp cụ thể kèm theo thời hạn khắc phục; quy định rõ trách nhiệm thi hành và trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện sau giám sát.
Bước 8. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện sau giám sát.
Sau khi ban hành báo cáo hoặc thông báo/nghị quyết kết quả giám sát, đại biểu, tổ đại biểu hoặc đoàn giám sát cần theo dõi việc thực hiện từng kiến nghị: kiến nghị nào đã thực hiện, kiến nghị nào chưa thực hiện, nội dung nào thực hiện chưa đầy đủ, nguyên nhân chậm thực hiện là gì, trách nhiệm thuộc về ai. Trường hợp chậm thực hiện hoặc trả lời chưa thỏa đáng, đại biểu có thể tiếp tục kiến nghị, đề nghị giải trình, đưa vào nội dung thảo luận tại kỳ họp hoặc chất vấn người có trách nhiệm. Đây là khâu bảo đảm giám sát không dừng ở phát hiện vấn đề, mà chuyển thành thúc đẩy giải quyết vấn đề.
Như vậy, xét về mặt kỹ năng, đại biểu cần lựa chọn đúng vấn đề, thu thập đúng thông tin và xác định đúng trách nhiệm; còn xét về mặt tổ chức thực hiện, một cuộc giám sát, khảo sát cần đi theo quy trình: thành lập đoàn giám sát; xây dựng kế hoạch, đề cương; gửi yêu cầu báo cáo; nghiên cứu tài liệu; khảo sát thực tế; tổ chức làm việc; tổng hợp thông tin; hoàn thiện báo cáo hoặc thông báo giám sát; theo dõi, đôn đốc sau giám sát.
II. KỸ NĂNG THẢO LUẬN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TẠI KỲ HỌP
Thảo luận tại kỳ họp là một trong những quyền và trách nhiệm quan trọng của đại biểu Hội đồng nhân dân. Khoản 1 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định đại biểu bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân; khoản 2 Điều 33 quy định đại biểu có trách nhiệm tham gia thảo luận và biểu quyết. Như vậy, thảo luận không phải là hoạt động phụ, càng không phải là phần mang tính nghi thức, mà là khâu quan trọng để đại biểu thực hiện trách nhiệm trước cử tri và trước Hội đồng nhân dân.
Về bản chất, thảo luận là quá trình đại biểu trao đổi ý kiến về một vấn đề được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định trên cơ sở phân tích, lý lẽ, căn cứ pháp luật, căn cứ thực tiễn và chính kiến của mình. Thảo luận tốt giúp Hội đồng nhân dân nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, bổ sung thông tin thực tiễn, phát hiện điểm chưa rõ trong báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết, từ đó nâng cao chất lượng quyết định.
Muốn thảo luận tốt, trước hết đại biểu phải chuẩn bị tốt. Chuẩn bị thảo luận không chỉ là đọc tài liệu kỳ họp, mà là đọc với tư duy phát hiện vấn đề. Khi nghiên cứu báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết, đại biểu cần đặt ra các câu hỏi: nội dung này có thuộc thẩm quyền Hội đồng nhân dân không; căn cứ pháp lý đã đầy đủ chưa; số liệu có thống nhất không; đánh giá kết quả có khách quan không; hạn chế đã chỉ đúng nguyên nhân chưa; mục tiêu có khả thi không; nguồn lực bảo đảm không; trách nhiệm tổ chức thực hiện thuộc về ai; nội dung này có liên quan đến kiến nghị của cử tri không; nếu nghị quyết được thông qua thì tác động đến người dân, doanh nghiệp, ngân sách và đời sống xã hội như thế nào.
Một ý kiến thảo luận có chất lượng phải có trọng tâm. Đại biểu không nên phát biểu dàn trải, không nên đọc lại báo cáo, cũng không nên chỉ phát biểu theo hướng “cơ bản thống nhất” mà không phân tích gì thêm. Thống nhất là cần thiết, nhưng nếu chỉ thống nhất mà không làm rõ căn cứ, điều kiện thực hiện, những băn khoăn hoặc kiến nghị hoàn thiện thì chưa phát huy đầy đủ vai trò đại biểu. Đại biểu có thể đồng tình với chủ trương nhưng đề nghị làm rõ nguồn lực; đồng tình với mục tiêu nhưng đề nghị bổ sung trách nhiệm; thống nhất với dự thảo nghị quyết nhưng đề nghị chỉnh sửa một điều khoản; tán thành báo cáo nhưng đề nghị phân tích sâu hơn nguyên nhân hạn chế.
Một ý kiến thảo luận chặt chẽ thường có bốn (04) thành tố. Thứ nhất là nêu rõ vấn đề đại biểu tham gia. Thứ hai là đưa ra căn cứ, có thể là căn cứ pháp luật, số liệu báo cáo, kết quả giám sát, ý kiến cử tri hoặc thực tiễn cơ sở. Thứ ba là thể hiện chính kiến của đại biểu: đồng tình, chưa đồng tình, băn khoăn hoặc đề nghị làm rõ. Thứ tư là kiến nghị cụ thể. Nếu thiếu căn cứ, ý kiến dễ cảm tính. Nếu thiếu chính kiến, phát biểu dễ chung chung. Nếu thiếu kiến nghị, ý kiến thảo luận dễ dừng lại ở nhận xét.
Ví dụ, khi thảo luận về báo cáo giải quyết kiến nghị cử tri, đại biểu không nên chỉ nói: “Đề nghị UBND quan tâm giải quyết kiến nghị cử tri”. Cách nói đó đúng nhưng chưa đủ. Có thể phát biểu sắc hơn: “Qua nghiên cứu báo cáo, tôi nhận thấy tỷ lệ kiến nghị cử tri được trả lời khá cao. Tuy nhiên, báo cáo chưa phân biệt rõ kiến nghị đã được giải quyết dứt điểm với kiến nghị mới dừng ở trả lời, giải thích. Trong khi đó, thực tế có một số nội dung cử tri kiến nghị qua nhiều kỳ nhưng chưa có kết quả xử lý cụ thể. Đề nghị UBND bổ sung phụ lục phân loại kiến nghị theo bốn nhóm: đã giải quyết xong, đang giải quyết, chưa giải quyết và giải quyết chưa thỏa đáng; đồng thời xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành đối với từng kiến nghị.” Cách phát biểu này không phủ nhận kết quả, nhưng đi thẳng vào điểm cốt lõi: trả lời chưa đồng nghĩa với giải quyết.
Kỹ năng thảo luận cũng bao gồm kỹ năng tranh luận. Tranh luận là biểu hiện của dân chủ nghị trường, nhưng phải là tranh luận về vấn đề, về căn cứ, về chính sách, về phương án, không phải tranh luận về cá nhân. Đại biểu có thể không đồng tình với ý kiến khác, nhưng cần trao đổi bằng ngôn ngữ chuẩn mực, có lý lẽ. Có thể nói: “Tôi chia sẻ với băn khoăn của đại biểu, tuy nhiên ở góc độ thực hiện chính sách, tôi đề nghị cân nhắc thêm…”; hoặc “Tôi thống nhất với mục tiêu, nhưng đề nghị xem lại phương án phân bổ nguồn lực vì…”. Cách tranh luận như vậy vừa giữ được tính phản biện, vừa bảo đảm văn hóa nghị trường. Thái độ khi tham gia thảo luận, tranh luận là rất quan trọng; đại biểu phải biết lắng nghe, có văn hóa thảo luận, tranh luận và trình bày ý kiến có cấu trúc để người nghe nắm bắt được vấn đề.
Sau cùng, thảo luận phải gắn với trách nhiệm biểu quyết. Đại biểu không thảo luận chỉ để nêu quan điểm cá nhân, mà thảo luận để làm rõ căn cứ trước khi tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân. Khi đại biểu biểu quyết, lá phiếu của đại biểu không chỉ thể hiện sự đồng ý hoặc không đồng ý với một nội dung cụ thể, mà còn thể hiện trách nhiệm trước cử tri về quyết định đó. Vì vậy, một đại biểu có trách nhiệm không nên biểu quyết khi chưa hiểu rõ vấn đề, chưa nghiên cứu kỹ tài liệu, chưa cân nhắc tác động và tính khả thi của nội dung được trình.
III. KỸ NĂNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Chất vấn không chỉ là quyền quan trọng của đại biểu Hội đồng nhân dân mà còn là một trong những công cụ giám sát trực tiếp, sắc bén nhất của đại biểu Hội đồng nhân dân. Về cơ sở pháp lý, khoản 7 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Khoản 7 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 xác định chất vấn là việc đại biểu nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của người bị chất vấn và yêu cầu người bị chất vấn trả lời về trách nhiệm của mình.
Từ hai căn cứ này có thể rút ra bản chất của chất vấn: chất vấn không phải là hỏi để biết thêm thông tin, mà là hỏi để làm rõ trách nhiệm. Một câu hỏi chỉ dừng ở “tình hình thế nào”, “giải pháp chung là gì” thì mới ở mức hỏi thông tin. Một câu hỏi chất vấn đúng nghĩa phải hướng vào các vấn đề: việc gì đang tồn tại, nguyên nhân do đâu, trách nhiệm thuộc về ai, giải pháp cụ thể là gì, thời hạn khắc phục khi nào. Như vậy, chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp, có tác động mạnh, giúp làm rõ tình hình, nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp để tạo chuyển biến.
Tính trách nhiệm của hoạt động chất vấn còn được khẳng định tại khoản 3 Điều 7 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025: cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, giải trình, trả lời những vấn đề mà chủ thể giám sát yêu cầu; đối với hoạt động chất vấn, người bị chất vấn không được ủy quyền cho người khác trả lời thay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác. Quy định này khẳng định tính trực tiếp, tính cá nhân và tính không thể né tránh của trách nhiệm trả lời chất vấn.
Kỹ năng đầu tiên của chất vấn là lựa chọn đúng vấn đề chất vấn. Đại biểu không nên chất vấn dàn trải, cũng không nên biến chất vấn thành diễn đàn hỏi thông tin thông thường. Vấn đề đưa ra chất vấn nên là vấn đề bức xúc, được cử tri quan tâm; vấn đề đã kéo dài nhưng chưa được giải quyết dứt điểm; vấn đề có dấu hiệu thực hiện chưa đúng pháp luật, chưa đúng nghị quyết của Hội đồng nhân dân; vấn đề có sự chậm trễ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; hoặc vấn đề cần người đứng đầu cam kết công khai về giải pháp và thời hạn xử lý. Nhu cầu chất vấn có thể xuất phát từ tiếp xúc cử tri, kết quả giám sát, thảo luận kinh tế - xã hội tại kỳ họp, nội dung trả lời chất vấn làm xuất hiện vấn đề mới hoặc từ sự bất cập của một số chế độ, chính sách.
Kỹ năng thứ hai là chuẩn bị câu hỏi chất vấn. Một câu hỏi chất vấn tốt phải cụ thể, rõ ràng, có căn cứ và đúng trách nhiệm người bị chất vấn. Cụ thể nghĩa là nêu rõ sự việc, địa bàn, thời gian, số liệu hoặc biểu hiện cần làm rõ. Rõ ràng nghĩa là câu hỏi ngắn, trực diện, không nhập nhiều vấn đề không liên quan. Có căn cứ nghĩa là dựa trên thông tin đã được kiểm chứng hoặc phản ánh đáng tin cậy cần được làm rõ. Đúng trách nhiệm nghĩa là vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người bị chất vấn.
Có thể sử dụng công thức năm thành tố để xây dựng câu hỏi chất vấn: vấn đề – căn cứ – trách nhiệm – giải pháp – thời hạn. Ví dụ: “Qua tiếp xúc cử tri tại thôn…, nhiều ý kiến phản ánh tình trạng rác thải tồn đọng sau các phiên chợ, gây ô nhiễm môi trường, đã kiến nghị nhiều lần nhưng chưa xử lý dứt điểm. Đề nghị Chủ tịch UBND xã cho biết nguyên nhân của tình trạng trên, trách nhiệm quản lý thuộc cơ quan, bộ phận nào, giải pháp xử lý cụ thể là gì và thời hạn chấm dứt tình trạng này là khi nào?”. Câu hỏi này có đủ vấn đề, căn cứ, trách nhiệm, giải pháp và thời hạn, nên buộc người trả lời phải đi vào trọng tâm.
Kỹ năng thứ ba là chất vấn lại. Trong thực tế, người bị chất vấn có thể trả lời dài, nêu nhiều kết quả, nhiều khó khăn khách quan, nhưng chưa trả lời đúng trọng tâm câu hỏi ban đầu. Khi đó, đại biểu cần bình tĩnh lắng nghe và chất vấn lại vào đúng phần chưa rõ. Nếu câu trả lời chưa nêu trách nhiệm, đại biểu có thể hỏi lại: “Nội dung tôi đề nghị làm rõ là trách nhiệm cụ thể. Đề nghị đồng chí cho biết cơ quan, bộ phận nào chịu trách nhiệm chính và trách nhiệm của người đứng đầu được xác định như thế nào?”. Nếu câu trả lời chưa có thời hạn, đại biểu có thể hỏi lại: “Đề nghị đồng chí cho biết thời hạn cụ thể để xử lý dứt điểm nội dung này và thời điểm báo cáo kết quả với Hội đồng nhân dân.” Nếu người trả lời chỉ nêu khó khăn, đại biểu có thể hỏi: “Trong các nguyên nhân đồng chí nêu, nguyên nhân nào thuộc trách nhiệm chủ quan của cơ quan quản lý và giải pháp khắc phục phần trách nhiệm chủ quan đó là gì?”. Chất vấn lại phải ngắn, rõ, sắc, không biến thành một bài phát biểu thứ hai.
Kỹ năng thứ tư là giữ thái độ chuẩn mực khi chất vấn. Chất vấn cần bản lĩnh nhưng không cực đoan; cần thẳng thắn nhưng không quy chụp; cần quyết liệt nhưng phải tôn trọng. Đại biểu chất vấn không phải để gây khó dễ cho người trả lời, mà để làm rõ trách nhiệm công vụ và thúc đẩy giải quyết vấn đề của cử tri. Một câu hỏi có căn cứ, diễn đạt chuẩn mực, đi thẳng vào trách nhiệm sẽ có sức nặng hơn nhiều so với một phát biểu gay gắt nhưng thiếu chứng cứ. Chất vấn cũng là dịp để đại biểu thay mặt cử tri đặt câu hỏi, giúp người có trách nhiệm thấy rõ trách nhiệm, nêu giải pháp và tạo chuyển biến tích cực.
Kỹ năng thứ năm là theo dõi sau chất vấn. Chất vấn không kết thúc khi người bị chất vấn trả lời xong. Điều 10 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định văn bản trả lời chất vấn, văn bản giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri và các văn bản khác theo quy định phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều 40 của Luật này tiếp tục đặt ra trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát. Vì vậy, đại biểu cần ghi nhận người bị chất vấn đã cam kết gì, thời hạn nào, cơ quan nào thực hiện, kết quả báo cáo ra sao. Đến thời hạn, nếu chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ, đại biểu có thể tiếp tục kiến nghị, đề nghị giải trình, đề xuất giám sát hoặc chất vấn lại tại kỳ họp sau.
Chất vấn có hiệu quả không phải vì câu hỏi có gây chú ý hay không, mà vì sau chất vấn, vấn đề có chuyển biến hay không. Đây là thước đo quan trọng nhất của kỹ năng chất vấn.
IV. MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP VÀ YÊU CẦU KHẮC PHỤC
Trong thực tiễn hoạt động, chất lượng giám sát, thảo luận và chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị hạn chế không phải vì thiếu thẩm quyền pháp lý, mà chủ yếu do cách lựa chọn vấn đề, cách xử lý thông tin và cách đặt yêu cầu trách nhiệm chưa thật sự rõ.
Đối với hoạt động giám sát, lỗi thường gặp là lựa chọn nội dung quá rộng, thiếu trọng tâm; chủ yếu dựa vào báo cáo mà chưa chú trọng khảo sát, đối chiếu thực tế; kiến nghị sau giám sát còn chung chung, chưa rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn thực hiện và phương thức báo cáo kết quả. Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, một hạn chế mới cũng dễ phát sinh là đại biểu vẫn tư duy theo quán tính của mô hình 03 cấp, chưa kịp cập nhật thẩm quyền mới giữa cấp tỉnh và cấp xã, dẫn đến nêu đúng vấn đề nhưng kiến nghị chưa đúng chủ thể. Để khắc phục, đại biểu cần lựa chọn vấn đề cụ thể, có căn cứ thực tiễn; thu thập thông tin từ nhiều nguồn; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời theo dõi đến cùng việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát.
Đối với hoạt động thảo luận, lỗi thường gặp là phát biểu dài nhưng thiếu trọng tâm, đọc lại báo cáo, chỉ nêu ý kiến “cơ bản thống nhất” mà chưa phân tích sâu, hoặc nêu bức xúc nhưng thiếu căn cứ và thiếu kiến nghị cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, nếu đại biểu chỉ thảo luận về chỉ tiêu, mục tiêu mà chưa xem xét năng lực thực hiện của cấp xã, trách nhiệm hướng dẫn của cấp tỉnh và cơ chế phối hợp giữa hai cấp thì ý kiến thảo luận vẫn có thể đúng về chủ trương nhưng chưa đủ chiều sâu thực tiễn. Để khắc phục, đại biểu cần chuẩn bị ý kiến theo hướng ngắn gọn, có cấu trúc, trong đó xác định rõ vấn đề tham gia, căn cứ pháp lý và thực tiễn, chính kiến của đại biểu và đề xuất xử lý.
Đối với hoạt động chất vấn, lỗi thường gặp là câu hỏi quá rộng, hỏi nhiều vấn đề trong một lượt, hỏi chưa đúng người chịu trách nhiệm, thiếu căn cứ hoặc chưa yêu cầu rõ giải pháp và thời hạn khắc phục. Trong mô hình 02 cấp, nếu đại biểu không nắm chắc sự phân định thẩm quyền mới thì rất dễ chất vấn không trúng trách nhiệm. Để khắc phục, đại biểu cần chuẩn bị câu hỏi chất vấn theo hướng cụ thể, trực diện, đúng thẩm quyền và gắn với trách nhiệm của người bị chất vấn. Câu hỏi chất vấn cần làm rõ vấn đề, căn cứ, nguyên nhân, trách nhiệm, giải pháp và thời hạn xử lý; trường hợp câu trả lời chưa thỏa đáng thì đại biểu cần chất vấn lại ngắn gọn, tập trung vào nội dung chưa được làm rõ.
Điểm chung cần khắc phục trong cả ba hoạt động là tình trạng nêu vấn đề nhưng chưa truy đến cùng trách nhiệm để đề xuất giải pháp tháo gỡ. Vì vậy, yêu cầu xuyên suốt đối với đại biểu Hội đồng nhân dân là phải phát hiện đúng vấn đề, sử dụng đúng căn cứ, xác định đúng thẩm quyền, đặt đúng câu hỏi, kiến nghị đúng cơ quan có trách nhiệm và theo dõi đúng kết quả thực hiện.
KẾT LUẬN
Nâng cao kỹ năng giám sát, thảo luận và chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân không chỉ là yêu cầu về nghiệp vụ hoạt động dân cử, mà còn là yêu cầu trực tiếp từ thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Khi mô hình chính quyền địa phương được tổ chức theo 02 cấp, thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã được phân định lại, yêu cầu đối với đại biểu cũng cao hơn: phải nắm chắc pháp luật hơn, hiểu thực tiễn sâu hơn, nhận diện trách nhiệm chính xác hơn và sử dụng hiệu quả hơn các công cụ mà pháp luật trao cho mình.
Lượt xem: 11