Nâng cao vai trò, trách nhiệm của HĐND cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Chuyên đề “Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025” do Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh Nguyễn Thị Nhuần trao đổi, tập trung làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức; các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã theo quy định mới và những yêu cầu đặt ra khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Đại biểu tham dự tập huấn

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 16/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 (gọi tắt là Luật số 72/2025). Đây là dấu mốc cải cách quan trọng trong tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, khi từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền 02 cấp (tỉnh và xã) được thực hiện trên phạm vi cả nước.

Việc tinh gọn còn 02 cấp chính quyền đặt ra yêu cầu phải phân định lại nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, bảo đảm không bỏ sót chức năng quản lý nhà nước sau khi bãi bỏ cấp trung gian. Để đáp ứng yêu cầu đó, Luật số 72/2025 đã tăng cường thẩm quyền cho Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã, phù hợp với mục tiêu chính trị trong giai đoạn mới. Trên cơ sở luật này, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định về phân cấp, phân quyền, chuyển giao nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc thẩm quyền cấp huyện cho cấp xã thực hiện. Đồng thời, Luật cũng cho phép HĐND tỉnh phân cấp thường xuyên một số nhiệm vụ cho HĐND cấp xã nếu xét thấy phù hợp.

Với khuôn khổ pháp lý mới, phạm vi và trách nhiệm của HĐND cấp xã được mở rộng đáng kể. Chuyên đề này phân tích về cơ cấu tổ chức, hoạt động của HĐND; về các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật số 72/2025, đồng thời làm rõ những nhiệm vụ được bổ sung qua các nghị định của Chính phủ, cơ chế phân cấp từ HĐND cấp trên và một số đặc thù trong tổ chức và hoạt động của HĐND phường.

1. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ

1.1. Vị trí, chức năng

HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; có trách nhiệm quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng như hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. So với Luật Tổ chức chính quyền địa phương (TCCQĐP) năm 2015 - khi còn 03 cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) - Luật số 72/2025 có thay đổi căn bản khi bãi bỏ cấp huyện, chuyển nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc HĐND huyện về HĐND cấp xã. Do vậy, khối lượng công việc, phạm vi quyết định và giám sát của HĐND cấp xã tăng lên đáng kể, khẳng định rõ hơn vai trò trung tâm của HĐND trong hệ thống chính quyền 02 cấp.

2.Tổ chức của HĐND cấp xã

2.1. Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã gồm: Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu và toàn thể đại biểu HĐND cấp xã.

Thường trực HĐND gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Trưởng các Ban của HĐND.  Nếu như Luật TCCQĐP năm 2015 chỉ quy định Phó Chủ tịch HĐND cấp xã bắt buộc là đại biểu chuyên trách, thì Luật số 72/2025 cho phép Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND có thể là đại biểu chuyên trách, tạo sự linh hoạt hơn trong bố trí nhân sự, phù hợp với bối cảnh chính quyền địa phương 02 cấp.

Về các Ban của HĐND, Luật số 72/2025 quy định HĐND cấp xã có 02 Ban chuyên trách là Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội. Đây là sự thay đổi lớn so với Luật TCCQĐP năm 2015, khi ở cấp xã các Ban gồm Ban Kinh tế - Xã hội và Ban Pháp chế. Theo Quy chế làm việc mẫu của HĐND cấp xã, các lĩnh vực trước đây thuộc Ban Pháp chế đã được phân bổ cho hai Ban, cụ thể: Ban Kinh tế - Ngân sách bổ sung lĩnh vực thi hành Hiến pháp và pháp luật; Ban Văn hóa - Xã hội bổ sung lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương, quản lý địa giới hành chính. Về cơ cấu tổ chức, theo Luật TCCQĐP năm 2015, Trưởng, Phó Trưởng Ban và Ủy viên Ban HĐND cấp xã đều hoạt động kiêm nhiệm. Đến Luật số 72/2025, Trưởng, Phó Trưởng Ban HĐND cấp xã có thể là đại biểu hoạt động chuyên trách.

Về Tổ đại biểu HĐND: Các đại biểu được bầu tại một hoặc nhiều đơn vị bầu cử được hợp thành Tổ đại biểu; số lượng Tổ do Thường trực HĐND cấp xã quyết định. Đây là điểm mới so với Luật TCCQĐP năm 2015, khi trước đây Luật chỉ quy định việc thành lập Tổ đại biểu HĐND ở cấp tỉnh và cấp huyện. Việc bổ sung quy định về Tổ đại biểu HĐND cấp xã nhằm tăng cường tính liên kết, phối hợp hoạt động giữa các đại biểu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp xúc cử tri và tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát trong bối cảnh không còn HĐND cấp huyện và quy mô cấp xã tăng lên.

2.2. Số lượng đại biểu

Số lượng đại biểu HĐND cấp xã được xác định dựa trên quy mô dân số và đặc thù địa bàn. Xã không thuộc các xã miền núi, hải đảo và phường thuộc tỉnh được xác định chi tiết tại Điều 30 của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.

“b) Xã không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;

  1. c) Phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu”

Cách tính này vừa bảo đảm tính đại diện, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.

3. Hoạt động của HĐND cấp xã

 3.1. Kỳ họp HĐND

HĐND cấp xã mỗi năm tổ chức ít nhất hai kỳ họp thường lệ để xem xét, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền. Ngoài ra, HĐND có thể triệu tập kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất theo đề nghị của Thường trực HĐND, Chủ tịch UBND xã, hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu yêu cầu. Luật số 72/2025 cũng quy định cơ chế để cử tri trực tiếp yêu cầu HĐND họp: nếu có trên 10% tổng số cử tri ký tên trong đơn kiến nghị, Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm tổ chức kỳ họp chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất để xem xét, quyết định những vấn đề mà cử tri kiến nghị. Quy định này khẳng định rõ vai trò làm chủ của Nhân dân và tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan dân cử ở cơ sở.

Công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND cấp xã bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, về xác định nội dung và xây dựng chương trình kỳ họp.

Thường trực HĐND căn cứ kế hoạch tổ chức kỳ họp và yêu cầu thực tiễn, đề nghị UBND, các Ban HĐND và các cơ quan liên quan đề xuất nội dung trình kỳ họp. Trên cơ sở đó, Thường trực HĐND tổng hợp, xây dựng dự kiến chương trình kỳ họp, bảo đảm bao quát đầy đủ các nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Thứ hai, về tổ chức hội nghị thống nhất kế hoạch kỳ họp.

Thường trực HĐND chủ trì phối hợp với UBND, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ và các cơ quan liên quan tổ chức hội nghị để thống nhất nội dung, chương trình, thời gian và phân công nhiệm vụ cụ thể. Đây là khâu quan trọng nhằm bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong quá trình chuẩn bị.

Thứ ba, về báo cáo cấp ủy.

Sau khi thống nhất kế hoạch, Thường trực HĐND báo cáo cấp ủy về nội dung, chương trình và công tác chuẩn bị kỳ họp để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của HĐND, đồng thời tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, về triệu tập và thông báo kỳ họp.

Thường trực HĐND ban hành quyết định triệu tập đại biểu dự kỳ họp theo đúng thời hạn quy định; đồng thời thông báo rộng rãi về thời gian, địa điểm, nội dung kỳ họp để các cơ quan, đơn vị và cử tri biết, theo dõi.

Thứ năm, về xây dựng các văn bản trình kỳ họp.

UBND, các cơ quan liên quan có trách nhiệm xây dựng báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết trình kỳ họp. Nội dung các văn bản phải bảo đảm có căn cứ pháp lý, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao khi tổ chức thực hiện.

Thứ sáu, về thẩm tra các văn bản trình kỳ họp.

Thẩm tra là hoạt động của các Ban HĐND nhằm nghiên cứu, xem xét, đánh giá toàn diện các nội dung trình kỳ họp trước khi HĐND thảo luận và quyết định.

Về bản chất, thẩm tra là: (1) Hoạt động kiểm soát quyền lực: bảo đảm các quyết định của cơ quan hành chính (UBND) khi trình HĐND phải được xem xét độc lập; (2) Hoạt động phản biện chính sách: đánh giá lại các đề xuất, phương án do UBND xây dựng; (3) Hoạt động nâng cao chất lượng quyết định: góp phần hoàn thiện nội dung trước khi HĐND biểu quyết.

Vai trò của thẩm tra thể hiện ở chỗ: Giúp HĐND có đầy đủ thông tin, căn cứ khi quyết định; Hạn chế tình trạng quyết định mang tính hình thức; Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của UBND.

Phân biệt thẩm tra và thẩm định

Thẩm định là hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND, mang tính nội bộ, nhằm kiểm tra tính pháp lý và kỹ thuật của dự thảo trước khi trình.

Thẩm tra là hoạt động của cơ quan dân cử (Ban HĐND), mang tính độc lập, đánh giá toàn diện cả về pháp lý, nội dung và tính khả thi.

Hoạt động thẩm tra được thực hiện theo một quy trình khoa học, chặt chẽ, gồm nhiều bước liên hoàn.

(1). Tiếp nhận hồ sơ và phân công nhiệm vụ

Thường trực HĐND tiếp nhận hồ sơ trình kỳ họp từ UBND, bao gồm tờ trình, dự thảo nghị quyết, các báo cáo và tài liệu liên quan. Trên cơ sở đó, Thường trực HĐND phân công Ban HĐND chủ trì thẩm tra theo lĩnh vực phụ trách. Việc phân công phải bảo đảm đúng chuyên môn, tránh chồng chéo và phát huy năng lực của từng Ban.

(2). Nghiên cứu hồ sơ và khảo sát thực tế (nếu thấy cần thiết): Đây là bước quan trọng quyết định chất lượng thẩm tra.

Các thành viên Ban HĐND phải: Nghiên cứu kỹ hồ sơ; Phân tích trên các phương diện pháp lý, kinh tế, xã hội; Đối chiếu với quy định pháp luật và thực tiễn địa phương.

Trong nhiều trường hợp, cần tổ chức khảo sát thực tế để: Kiểm chứng thông tin; Nắm bắt ý kiến người dân; Đánh giá khả năng triển khai.

(3). Tổ chức họp thẩm tra. Cuộc họp thẩm tra là diễn đàn quan trọng để trao đổi, phản biện.

Tại cuộc họp: Cơ quan trình (UBND) báo cáo, giải trình; Ban HĐND đặt câu hỏi, yêu cầu làm rõ; Các bên trao đổi, thảo luận về các nội dung còn vướng mắc.

Việc điều hành cuộc họp phải bảo đảm dân chủ nhưng có trọng tâm, tập trung vào những vấn đề cốt lõi.

(4). Xây dựng báo cáo thẩm tra. Báo cáo thẩm tra là sản phẩm cuối cùng của hoạt động thẩm tra.

Báo cáo cần: Đánh giá khách quan, toàn diện; Nêu rõ quan điểm của Ban HĐND; Đưa ra kiến nghị cụ thể, rõ ràng. Đây là tài liệu quan trọng để đại biểu HĐND nghiên cứu và thảo luận.

(5). Trình bày tại kỳ họp HĐND. Tại kỳ họp, Trưởng Ban HĐND trình bày báo cáo thẩm tra.

Chất lượng trình bày có ý nghĩa quan trọng, giúp đại biểu: Hiểu rõ vấn đề; Nhận diện những nội dung cần thảo luận; Có cơ sở để biểu quyết.

Các kỹ năng trọng tâm trong hoạt động thẩm tra

(1). Kỹ năng phân tích pháp lý

Đây là kỹ năng nền tảng, giúp xác định: Nội dung có phù hợp quy định pháp luật hay không; Có đúng thẩm quyền của HĐND hay không; Có mâu thuẫn với văn bản cấp trên hay không.

(2). Kỹ năng đánh giá tính khả thi. Một nội dung chỉ thực sự có giá trị khi có thể triển khai trong thực tế.

Do đó, cần phân tích: Nguồn lực tài chính; Nhân lực thực hiện; Điều kiện tổ chức.

(3). Kỹ năng phân tích số liệu. Số liệu là cơ sở quan trọng để ra quyết định.

Cần: Kiểm tra tính chính xác; So sánh theo thời gian; Đối chiếu với các nguồn khác.

(4). Kỹ năng chất vấn và phản biện. Đây là kỹ năng thể hiện rõ vai trò của đại biểu HĐND, thành viên các ban.

Cần: Đặt câu hỏi đúng trọng tâm; Yêu cầu giải trình rõ ràng; Phản biện có căn cứ.

(5). Kỹ năng tổng hợp và trình bày.

Báo cáo thẩm tra phải: Có cấu trúc logic; Rõ trọng tâm; Kiến nghị cụ thể, dễ thực hiện.

Thứ bảy, về mời đại biểu và gửi tài liệu kỳ họp.

Thường trực HĐND xác định thành phần đại biểu tham dự kỳ họp, ban hành giấy mời và gửi tài liệu đúng thời hạn để đại biểu nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận.

Thứ tám, về xây dựng kịch bản điều hành kỳ họp.

Thường trực HĐND xây dựng kịch bản điều hành chi tiết, phân công rõ trách nhiệm điều hành từng nội dung, bảo đảm kỳ họp diễn ra theo đúng chương trình.

Thứ chín, về kiểm tra, rà soát công tác chuẩn bị.

Trước khi kỳ họp diễn ra, Thường trực HĐND phối hợp UBND kiểm tra, rà soát toàn bộ các điều kiện tổ chức kỳ họp, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, bảo đảm kỳ họp được tổ chức thuận lợi.

Như vậy, công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND cấp xã là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi sự chủ động, chặt chẽ và phối hợp đồng bộ giữa nhiều chủ thể. Trong điều kiện nhiệm vụ của HĐND cấp xã ngày càng được mở rộng, yêu cầu đối với công tác chuẩn bị kỳ họp càng cao, đòi hỏi phải tổ chức thực hiện một cách khoa học, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ở cơ sở trong giai đoạn mới.

3.2. Biểu quyết

Luật số 72/2025 quy định việc biểu quyết của HĐND cấp xã có thể tiến hành trực tiếp, trực tuyến hoặc bằng hình thức phù hợp khác theo Quy chế làm việc. Đây là điểm mới so với Luật TCCQĐP năm 2015, vốn chỉ giới hạn ở hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại phiên họp toàn thể. Quy định mới mở rộng phương thức, đáp ứng yêu cầu linh hoạt, hiện đại trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số cũng như các tình huống không lường trước được trong thực tiễn cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh,v.v… phù hợp với bối cảnh mới.

Về nguyên tắc thông qua nghị quyết, Luật số 72/2025 tiếp tục kế thừa quy định của Luật TCCQĐP năm 2015: nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu tán thành; riêng nghị quyết bãi nhiệm đại biểu HĐND được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu tán thành.

3.3. Bầu và phê chuẩn chức danh của HĐND, UBND

Theo Luật số 72/2025, HĐND cấp xã thực hiện việc bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng các Ban của HĐND; đồng thời bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên UBND cấp xã. Kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã phải được Thường trực HĐND cấp tỉnh phê chuẩn; kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê chuẩn.

Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, HĐND cấp xã không thực hiện việc bầu các chức danh thuộc thẩm quyền như thông lệ. Theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật số 72/2025, Thường trực HĐND tỉnh chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng các Ban của HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã; và Thường trực HĐND cấp xã chỉ định Ủy viên UBND và Phó Trưởng các Ban của HĐND cấp xã. Quy định về chỉ định trên được thực hiện đến hết năm 2025. Từ năm 2026 trở đi, việc bầu và phê chuẩn các chức danh sẽ được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 30 của Luật.

3.4. Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu

Luật TCCQĐP năm 2015 quy định HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với một số chức danh chủ chốt; đồng thời có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm khi có đề nghị hợp lệ, kết quả phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn; tuy nhiên, các quy định này còn khái quát, chưa đề cập đầy đủ tình huống phát sinh. Đến Luật số 72/2025 đã kế thừa nhưng bổ sung nhiều điểm mới: quy định rõ cơ chế cho thôi chức hoặc từ chức đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu; trong thời gian HĐND không họp, Thường trực HĐND có thể phê chuẩn và báo cáo lại tại kỳ họp gần nhất; đồng thời nhấn mạnh thẩm quyền phê chuẩn của cơ quan cấp trên. Luật số 72/2025 bổ sung trường hợp nghỉ hưu hoặc từ trần thì đương nhiên thôi chức, không phải làm thủ tục miễn nhiệm. Như vậy, Luật mới không chỉ duy trì cơ chế tín nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm mà còn cụ thể hóa, linh hoạt hơn trong xử lý nhân sự, bảo đảm tính minh bạch và kỷ luật.

3.5. Tạm đình chỉ, thôi làm nhiệm vụ đại biểu, bãi nhiệm và mất quyền đại biểu HĐND

Theo Luật TCCQĐP năm 2015, đại biểu HĐND có thể thôi làm nhiệm vụ khi không còn công tác hoặc cư trú tại địa bàn, vì lý do sức khỏe, hoặc bị khởi tố thì Thường trực HĐND quyết định tạm đình chỉ; trường hợp bị kết án thì đương nhiên mất quyền đại biểu; ngoài ra, HĐND hoặc cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu xét thấy không còn xứng đáng. Luật số 72/2025 tiếp tục kế thừa các quy định này, đồng thời mở rộng và cụ thể hơn: bổ sung cơ chế tạm đình chỉ khi có đề nghị bằng văn bản của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử; quy định rõ việc khôi phục quyền đại biểu khi có kết luận không vi phạm hoặc được miễn trách nhiệm hình sự; giao Thường trực HĐND thẩm quyền chấp thuận việc thôi làm nhiệm vụ đại biểu trong thời gian HĐND không họp,…

III. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN

1.Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Luật và các Nghị định của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 21 Luật số 72/2025, HĐND cấp xã có 09 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu. Việc chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp đặt ra yêu cầu phân định lại thẩm quyền giữa các cấp, đặc biệt là chuyển một số công việc vốn do cấp huyện đảm nhiệm về cấp tỉnh hoặc cấp xã. Để triển khai, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết về phân cấp, phân quyền trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, bảo đảm bộ máy mới không bỏ sót nhiệm vụ, cụ thể:

1.1. Nhóm nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật

HĐND cấp xã có thẩm quyền ban hành nghị quyết về các vấn đề thuộc phạm vi quản lý; quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương. Điểm mới quan trọng của Luật số 72/2025 là bổ sung thẩm quyền quyết định chính sách, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khuyến khích kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - những nội dung trước đây chủ yếu do cấp huyện hoặc cấp tỉnh đảm nhiệm. Ngoài ra, HĐND cấp xã có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp; đồng thời có trách nhiệm tự sửa đổi, bãi bỏ, bổ sung văn bản do mình ban hành khi xét thấy không còn phù hợp hoặc trái pháp luật. Luật số 72/2025 nhấn mạnh cơ chế này nhằm bảo đảm hệ thống văn bản ở cơ sở luôn hợp hiến, hợp pháp và thống nhất.

1.2. Nhóm nhiệm vụ về tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền

Theo Luật số 72/2025, HĐND cấp xã được quyết định việc thành lập, tổ chức lại, thay đổi tên gọi, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc UBND cùng cấp - thẩm quyền mới so với trước đây chỉ cấp huyện, tỉnh mới có. HĐND cấp xã cũng được quyết định số lượng biên chế cán bộ, công chức, số người hưởng lương từ ngân sách trong phạm vi chỉ tiêu tỉnh giao, qua đó tăng tính chủ động của địa phương.

Luật số 72/2025 quy định HĐND cấp xã được xem xét cho ý kiến về việc thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp xã; đồng thời có quyền trực tiếp quyết định việc sắp xếp, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố - trước đây thuộc thẩm quyền HĐND tỉnh. Xã cũng được quy định số lượng người hoạt động không chuyên trách hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước theo quy định của tỉnh. Ngoài ra, HĐND cấp xã được ban hành Quy chế làm việc của mình và các cơ quan trực thuộc.

Về nhân sự, HĐND cấp xã tiếp tục có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của HĐND và UBND xã; đồng thời có thẩm quyền bãi nhiệm hoặc chấp thuận cho đại biểu thôi nhiệm vụ đại biểu HĐND, bảo đảm công tác nhân sự chặt chẽ, minh bạch hơn.

1.3. Nhóm nhiệm vụ về quy hoạch, kế hoạch, đầu tư, tài chính - ngân sách, liên kết hợp tác cấp xã

Luật số 72/2025 trao cho HĐND cấp xã thẩm quyền rộng hơn trong công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển. Nếu trước đây HĐND cấp xã chỉ thông qua kế hoạch kinh tế - xã hội hằng năm, thì nay được quyết định cả kế hoạch trung hạn 5 năm, bảo đảm phù hợp với quy hoạch của tỉnh và quy hoạch chung đã được phê duyệt.

Trong lĩnh vực ngân sách, Luật số 72/2025 quy định thẩm quyền của HĐND cấp xã được quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh dự toán ngân sách cấp mình trong trường hợp cần thiết. Đặc biệt, theo Nghị định số 125/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, HĐND cấp xã còn được giao thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trước đây thuộc HĐND huyện trong quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn (như Chương trình nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng…). Quy định này trao thêm quyền cho HĐND cấp xã trong việc quyết định nội dung cụ thể của các chương trình, bảo đảm triển khai hiệu quả ngay từ cơ sở.

Trong lĩnh vực đầu tư công, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án trên địa bàn theo pháp luật về đầu tư công; quyết định biện pháp huy động đóng góp của Nhân dân để xây dựng hạ tầng, công trình công cộng, phúc lợi địa phương - một thẩm quyền mới, giúp minh bạch hóa việc huy động và tăng quyền chủ động của cơ sở.

Ngoài ra, lần đầu tiên, Luật số 72/2025 quy định HĐND cấp xã có thể quyết định biện pháp thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các đơn vị hành chính cấp xã nhằm giải quyết những vấn đề chung như quản lý công trình liên xã hay phát triển kinh tế vùng. HĐND cấp xã còn được quyết định các chương trình, biện pháp hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, góp phần khuyến khích kinh tế cơ sở và nâng cao đời sống Nhân dân.

1.4. Nhóm nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Đây là nhóm nhiệm vụ hoàn toàn mới được bổ sung trong Luật số 72/2025, phù hợp xu thế hiện đại hóa quản lý nhà nước. HĐND cấp xã có quyền quyết định các biện pháp, chương trình, đề án phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn. Việc bổ sung thẩm quyền khẳng định vai trò của chính quyền cơ sở trong xây dựng xã hội số. HĐND cấp xã có thể ban hành nghị quyết về chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; quyết định giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung ứng dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Nhờ vậy, xã có thể chủ động trang bị hệ thống họp trực tuyến, áp dụng phần mềm quản lý hồ sơ công dân, hay thúc đẩy người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đây là bước phân cấp quan trọng, giúp cấp xã linh hoạt hơn trong triển khai mục tiêu khoa học - công nghệ, đồng thời gắn với trách nhiệm giám sát quá trình chuyển đổi số tại địa phương.

1.5. Trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, môi trường, nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng và giao thông

Luật số 72/2025 mở rộng thẩm quyền của HĐND cấp xã trong quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế. Trước hết, HĐND cấp xã được thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. HĐND cấp xã được quyết định biện pháp quản lý, khai thác hiệu quả đất đai, tài nguyên nước, rừng và bảo vệ môi trường trên địa bàn theo quy hoạch, pháp luật; có quyền quyết định giải pháp phòng chống thiên tai, dịch bệnh tại chỗ. Những thẩm quyền này trước đây thuộc thẩm quyền của HĐND cấp huyện, nay được điều chỉnh về cấp xã nhằm đảm bảo phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Cùng với đó, theo Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, HĐND cấp xã được giao thêm các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp gắn với bảo vệ môi trường, như: phê duyệt phương án sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; xét duyệt quyết toán kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng; phê duyệt kế hoạch tài chính và quyết toán ngân sách xã trong cơ chế thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính; quyết định bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo phân cấp ngân sách. Đây là sự bổ sung quan trọng, cấp xã trực tiếp tham gia vào các chính sách quản lý tài nguyên rừng, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.

Trong phát triển kinh tế, HĐND cấp xã có quyền bàn và quyết định các biện pháp phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng, giao thông. Đặc biệt, HĐND cấp xã được giao quyết định biện pháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; được quyền chủ động thông qua biện pháp phù hợp thực tiễn, từ huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện đến giám sát kết quả - thể hiện xu hướng phân cấp gắn với trách nhiệm, trao quyền để xã linh hoạt trong phát triển nông thôn.

Ngoài ra, trong lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị, theo Nghị định số 140/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính sách phát triển nhà ở xã hội tại địa phương. Cụ thể, HĐND cấp xã có thể quyết định sử dụng vốn ủy thác của Quỹ phát triển nhà ở địa phương (nếu có), vốn hỗ trợ ngân sách hằng năm, vốn vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách xã hội, cũng như nguồn huy động từ trái phiếu, công trái nhà ở và các nguồn hợp pháp khác. Quy định này giúp HĐND cấp xã tham gia trực tiếp vào việc phát triển quỹ nhà ở xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở cho người dân ngay tại cơ sở.

Như vậy, So với Luật 2015, thẩm quyền của HĐND cấp xã trong nhóm lĩnh vực này đã được mở rộng đáng kể, từ quy hoạch, quản lý tài nguyên đến phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng đô thị, nông thôn. Sự phân cấp này vừa tăng tính chủ động cho chính quyền cơ sở, vừa đặt ra yêu cầu HĐND cấp xã phải chịu trách nhiệm cao hơn trong quản lý, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

1.6. Nhóm nhiệm vụ về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, thể dục thể thao

Luật số 72/2025 bổ sung rõ vai trò của HĐND cấp xã trong phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội, phân cấp nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện. HĐND cấp xã được quyết định biện pháp phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân; đồng thời quyết định các giải pháp phát triển văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao trên địa bàn. Trên cơ sở đó, HĐND cấp xã có thể ban hành nghị quyết huy động nguồn lực để sửa chữa trường lớp, xây dựng sân thể thao, thành lập điểm sinh hoạt văn hóa, hoặc hỗ trợ hoạt động y tế dự phòng tại trạm y tế xã.

Theo Nghị định số 142/2025/NĐ-CPngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, HĐND cấp xã được trao thêm thẩm quyền trong quản lý giáo dục địa bàn: phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục xã, phường theo đề nghị của UBND cùng cấp; quyết định các chương trình, dự án phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phù hợp chiến lược của tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đây là sự mở rộng đáng kể, bảo đảm HĐND cấp xã không chỉ thông qua kế hoạch chung mà còn trực tiếp quyết định định hướng phát triển giáo dục ở cơ sở.

Ngoài ra, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm và chăm lo cho các đối tượng yếu thế như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công. Việc trao quyền này giúp HĐND cấp xã phát huy lợi thế gần dân, hiểu rõ hoàn cảnh từng đối tượng để đưa ra biện pháp sát thực tế và giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện.

1.7. Nhóm nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo

Trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, HĐND cấp xã tiếp tục giữ vai trò quan trọng và được Luật số 72/2025 bổ sung thêm nhiều thẩm quyền: HĐND cấp xã có quyền quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Nếu như Luật TCCQĐP năm 2015 chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp là bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phòng chống tội phạm “trong phạm vi được phân quyền”, thì Luật số 72/2025 đã mở rộng ra toàn diện hơn, bao gồm cả nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Đặc biệt, HĐND cấp xã có quyền quyết định biện pháp xây dựng, củng cố lực lượng dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật. Như vậy, Luật mới đã tạo cơ sở pháp lý để HĐND cấp xã tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ quốc phòng toàn dân ngay từ cơ sở.

Đối với công tác dân tộc, tôn giáo, Luật số 72/2025 trao thêm nhiều quyền hạn cho HĐND cấp xã được quyết định các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo trên địa bàn. Sự bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn này giúp HĐND cấp xã phát huy tính chủ động, gắn kết chính sách với thực tiễn cơ sở, làm cho công tác dân tộc, tôn giáo đi vào cuộc sống hiệu quả và sát thực hơn.

1.8. Nhóm nhiệm vụ về giám sát

Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND cấp xã có chức năng giám sát quan trọng. Luật số 72/2025 khẳng định HĐND cấp xã giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND cấp xã, cũng như hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban và UBND cùng cấp. Đây là những nội dung cơ bản đã có từ Luật TCCQĐP năm 2015 và nay tiếp tục được duy trì.

Điểm mới nổi bật của Luật số 72/2025 là mở rộng phạm vi giám sát sang “cơ quan khác ở địa phương”. Điều này hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh bộ máy chính quyền cấp xã đã được điều chỉnh, mở rộng để thực hiện nhiệm vụ chính quyền 02 cấp, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm mọi hoạt động ở cơ sở đều phục vụ lợi ích nhân dân và tuân thủ pháp luật.

1.9. Nhóm nhiệm vụ về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Luật số 72/2025 giao HĐND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được cấp trên phân cấp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác do pháp luật quy định. Quy định này tạo cơ sở để HĐND cấp xã tiếp nhận kịp thời mọi công việc do Chính phủ, HĐND tỉnh phân cấp, cũng như những nhiệm vụ do luật chuyên ngành quy định. Điều này bảo đảm tính bao quát, khẳng định nguyên tắc phân định thẩm quyền rõ ràng, không chồng chéo; nhiệm vụ đã giao cho xã thì cấp trên không làm thay, đồng thời phải bảo đảm nguồn lực để xã thực hiện.

2. Phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn từ HĐND cấp tỉnh cho HĐND cấp xã

Bên cạnh việc tiếp nhận nhiệm vụ, quyền hạn từ cấp huyện theo chủ trương chung, Luật số 72/2025 còn thiết lập cơ chế phân cấp chủ động từ HĐND cấp tỉnh xuống HĐND cấp xã đối với một số công việc cụ thể.

Theo khoản 1 Điều 13 Luật số 72/2025, HĐND cấp tỉnh được phép phân cấp cho HĐND cấp xã thực hiện thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà luật giao cho HĐND tỉnh, trừ những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định không được phân cấp. Việc phân cấp này phải được thực hiện chặt chẽ, đáp ứng các điều kiện nhất định: (i) nội dung phân cấp phải được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật do HĐND cấp tỉnh ban hành; (ii) HĐND cấp tỉnh chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết (về ngân sách, nhân lực, hướng dẫn chuyên môn…) để cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, trừ trường hợp HĐND cấp xã đề nghị tự đảm bảo điều kiện để thực hiện.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân cấp, HĐND cấp xã có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Cụ thể, HĐND cấp xã có quyền tham gia ý kiến đối với dự thảo văn bản phân cấp của cấp tỉnh; có quyền đề nghị HĐND tỉnh điều chỉnh nội dung phân cấp nếu xét thấy cần thiết. Cùng với đó, HĐND cấp xã phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước HĐND cấp tỉnh về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được phân cấp; định kỳ báo cáo, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp theo yêu cầu. Đặc biệt, Luật nhấn mạnh cơ quan được phân cấp không được phân cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã được phân cấp. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc một nhiệm vụ chỉ phân cấp một lần, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc phân cấp tràn lan.

Ngoài cơ chế thụ động nhận phân cấp, Luật số 72/2025 còn trao cho HĐND cấp xã quyền chủ động đề xuất với HĐND cấp tỉnh về việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho cấp xã nếu xét thấy phù hợp với khả năng của địa phương. Cơ chế này tạo động lực cho chính quyền cơ sở nâng cao năng lực, chủ động nhận thêm công việc nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, đồng thời giúp giảm tải cho cấp tỉnh trong những việc có thể giao cho cơ sở.

Có thể thấy, với các quy định nói trên, Luật số 72/2025 đã mở ra kênh linh hoạt trong quản lý nhà nước: tùy tình hình, HĐND cấp tỉnh có thể “ủy quyền” một số phần việc cho HĐND cấp xã thực hiện lâu dài, thường xuyên. Điều này vừa phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cấp dưới, vừa đảm bảo công việc được giải quyết ở cấp gần dân nhất, đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu thực tiễn đặt ra.

3. Đặc thù nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường

Do đặc thù của đơn vị hành chính đô thị, pháp luật quy định một số điểm riêng về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường. Về cơ bản, HĐND phường thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn như HĐND cấp xã, ngoại trừ những nội dung liên quan đến “thôn”. Bên cạnh đó, HĐND phường được giao thêm một số thẩm quyền phù hợp với tính chất đô thị:

- Quyết định biện pháp thực hiện quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địa bàn, bảo đảm phù hợp quy hoạch chung của tỉnh.

- Quyết định biện pháp khuyến khích phát triển kinh tế đô thị, thúc đẩy thương mại, dịch vụ, tài chính, ứng dụng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo.

- Quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố; xác định số lượng người hoạt động không chuyên trách ở phường hưởng phụ cấp theo khung của tỉnh.

HĐND phường được coi là “phiên bản đô thị” của HĐND cấp xã, với đầy đủ thẩm quyền chung và được bổ sung thêm công cụ để quản lý, giám sát quá trình phát triển đô thị - nơi có tính năng động và phức tạp cao hơn khu vực nông thôn.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND

Theo Điều 31 của Luật số 72/2025, Thường trực HĐND có 13 nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức, điều hòa, phối hợp hoạt động của HĐND; chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa kỳ họp; giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND; giữ mối liên hệ với cử tri; chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của các Ban HĐND. Chủ tịch HĐND là người đứng đầu, chịu trách nhiệm toàn diện; Phó Chủ tịch và các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo phân công.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND

Luật số 72/2025 khẳng định đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, tham gia thảo luận, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND; giữ mối liên hệ mật thiết với cử tri, tiếp công dân, tiếp nhận và phản ánh kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND và hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương.

  1. VIỆC BAN HÀNH CHÍNH SÁCH CỦA HĐND XÃ

Điều 4: Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 và Luật số 87/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này (có hiệu lực từ 01/7/2025) quy định chủ thể ban hành Văn bản quy phạm pháp luật:

  1. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
  2. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.”.

Điều 21 Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã

  1. Trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật:
  2. a) Quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa bàn;
  3. b) Quyết định chính sách, biện pháp để phát triển kinh tế-xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế tư nhân và đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Điều 22 Luật Ban hành Văn bản

Sửa đổi, bổ sung Điều 22 như sau:

“Điều 22. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cấp xã

  1. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật này và quy định của văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của Quốc hội.
  2. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết để quy định:
  3. a) Những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao;
  4. b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
  5. c) Chính sách, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
  6. Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định:
  7. a) Những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao;
  8. b) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
  9. c) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.”.

Điều 31 Luật Ngân sách nhà nước 2025 chỉ quy định thẩm quyền của HĐND tỉnh trong việc (điểm l khoản 9)

  1. l) Quyết định các chế độ chi ngân sách để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối của ngân sách địa phương;

          Kết luận: HĐND cấp xã không chỉ ban hành các biện pháp tổ chức thi hành pháp luật mà còn được quyết định các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong phạm vi luật giao và nhiệm vụ được phân cấp. Tuy nhiên, thẩm quyền này không đồng nghĩa với việc cấp xã được tự ban hành mọi cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách liên quan đến chế độ chi ngân sách hoặc cơ chế tài chính đặc thù, vì các nội dung này hiện pháp luật vẫn chủ yếu giao cho HĐND cấp tỉnh quyết định.

Việt Dũng - Xuân Hoa

Lượt xem: 15

Xem nhiều nhất