Tăng cường kỹ năng thẩm tra để nâng cao hiệu quả quyết định của HĐND
Chuyên đề “Kỹ năng thẩm tra, xem xét dự thảo nghị quyết và thực hiện chức năng quyết định của HĐND” do Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh Đào Thị Anh Nga trao đổi, đi sâu vào quy trình nghiên cứu hồ sơ, lựa chọn trọng tâm thẩm tra, khảo sát thực tế và xây dựng báo cáo thẩm tra phục vụ HĐND xem xét, quyết nghị.

Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh Đào Thị Anh Nga truyền đạt chuyên đè
- Mục tiêu của bài giảng:
- Hiểu rõ được chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân xã, của các Ban Hội đồng nhân dân trong hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương theo quy định pháp luật hiện hành.
- Nắm được khái niệm, quy trình, nội dung và yêu cầu của hoạt động thẩm tra dự thảo Nghị quyết trình Hội đồng nhân dân xã.
- Phân tích và đánh giá được tính hợp pháp, tính khả thi và hiệu quả của các nội dung được trình xem xét, quyết định.
- Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, tổng hợp tài liệu, lập báo cáo thẩm tra và tham gia thảo luận tại kỳ họp Hội đồng nhân dân xã.
- Thực hiện tốt chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân xã đối với các lĩnh vực kinh tế, ngân sách, đầu tư công, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh và các vấn đề quan trọng khác ở địa phương.
- Vận dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn công tác, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Kiến thức chung:
- Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân xã
- Chức năng của Hội đồng nhân dân (Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025)
Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Do vậy HĐND thực hiện hai chức năng cơ bản là chức năng quyết định và chức năng giám sát
- Chức năng của Hội đồng nhân dân xã
Chức năng của HĐND xã về bản chất không khác chức năng chung của HĐND, vì HĐND xã cũng là một cấp chính quyền địa phương. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, HĐND xã có hai chức năng cơ bản:

Đại biểu tham dự tập huấn
+ Chức năng quyết định: HĐND xã quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trong phạm vi thẩm quyền, như: Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của xã; Dự toán, phân bổ và phê chuẩn quyết toán ngân sách xã; Chủ trương đầu tư công, công trình, dự án thuộc thẩm quyền; Biện pháp quản lý đất đai, môi trường, xây dựng nông thôn mới, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa ở địa phương.
+ Chức năng giám sát: HĐND xã giám sát việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; Việc thực hiện Nghị quyết của HĐND xã; Hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và các cơ quan, tổ chức liên quan.
- Chức năng, nhiệm vụ của các Ban Hội đồng nhân dân
Ban của Hội đồng nhân dân là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo Nghị quyết, báo cáo, Đề án trước khi trình HĐND; giám sát, kiến Nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.
- Hội đồng nhân dân tỉnh thành lập Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Ngân sách, Ban Văn hóa - Xã hội.
- Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hoá – Xã hội
HĐND cấp xã thành lập Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hoá – Xã hội. Ban của HĐND có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và các Uỷ viên. Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của HĐND cấp xã có thể là đại biểu HĐND chuyên trách. Trưởng Ban, Phó trưởng Ban HĐND không thể đồng thời là người đứng đầu cơ quan chuyên môn Uỷ ban nhân dân cùng cấp để bảo đảm cho hoạt động giám sát được khách quan.
Các Ban của HĐND xã có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: (1) Tham gia chuẩn bị các Kỳ họp của HĐND; (2) Thẩm tra các đề án, báo cáo và dự thảo Nghị quyết do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công; (3) Giúp HĐND giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; (4) Giúp HĐND giám sát các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và các Nghị quyết của HĐND, các Quyết định của UBND cùng cấp; (5) Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Thường trực HĐND cùng cấp.

III. Kỹ năng thẩm tra, xem xét dự thảo Nghị quyết
- Khái niệm, phân loại Nghị quyết:
Căn cứ theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định Nghị quyết là một loại văn bản quy phạm pháp luật.
Nghị quyết là hình thức văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân các cấp.
Nghị quyết được hiểu là hình thức văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội Nghị bàn bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số, biểu thị ý kiến hay ý định của một cơ quan, tổ chức về một vấn đề nhất định.
Thông thường, các nghị quyết của HĐND được phân làm 2 nhóm:
- Nhóm các nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật (Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật).
Luật ban hành VBQPPL 2025 quy định: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi cả nước hoặc trong đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định tại Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Theo Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 thì Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định của Luật này
Nghị quyết của HĐND xã là văn bản quy phạm pháp luật căn cứ vào khoản 2, Điều 22 Luật số 87/2025/QH15 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản:
“Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành Nghị quyết để quy định:
- a) Những vấn đề được luật, Nghị quyết của Quốc hội giao;
- b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- c) Chính sách, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp”
- Nhóm các Nghị quyết không chứa quy phạm pháp luật (Nghị quyết cá biệt)
Theo khái niệm về Văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, Nghị quyết không chứa quy phạm pháp luật, được ban hành để áp dụng cho phạm vi đối tượng nhất định, không được ban hành theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.
HĐND cấp xã ban hành Nghị quyết cá biệt trong các trường hợp như:
- Nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các chức vụ khác;
- Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND và bầu các chức vụ khác;
- Nghị quyết giao biên chế ở địa phương;
- Nghị quyết dự toán, quyết toán ngân sách địa phương;
Quy trình, thủ tục ban hành các nghị quyết có quy phạm pháp luật và các nghị quyết không chứa quy phạm pháp luật được quy định khác nhau trong các điều khoản tương ứng của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Khác biệt giữa Nghị quyết HĐND cấp tỉnh và Nghị quyết NĐND cấp xã:
|
Tiêu chí |
Nghị quyết HĐND cấp tỉnh |
Nghị quyết HĐND cấp xã |
|
1. Thẩm quyền ban hành |
Do HĐND tỉnh ban hành |
Do HĐND xã, phường ban hành |
|
2. Phạm vi |
Áp dụng trên toàn tỉnh, phạm vi rộng |
Áp dụng trong phạm vi xã, phạm vi hẹp hơn |
|
3. Nội dung quyết định |
Vấn đề lớn, mang tính chiến lược: Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh; Dự toán, quyết toán ngân sách cấp tỉnh; Chủ trương đầu tư các dự án thuộc thẩm quyền; Ban hành chính sách, mức hỗ trợ, chế độ đặc thù theo phân cấp. |
Vấn đề cụ thể, thiết thực: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã; Dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách xã; Chủ trương xây dựng công trình hạ tầng quy mô nhỏ; Các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. |
|
4. Căn cứ pháp lý, mức độ chi tiết |
Cụ thể hóa luật, Nghị quyết cấp trên ở quy mô toàn tỉnh; nội dung tổng quát hơn |
Cụ thể hóa Nghị quyết cấp trên và giải quyết vấn đề phát sinh tại cơ sở; nội dung chi tiết hơn |
|
5. Tính chất, tác động |
Tác động đến phát triển KT-XH toàn tỉnh |
Tác động trực tiếp đến đời sống người dân địa phương |
- 3. Khái niệm về thẩm tra
Thẩm tra của HĐND cấp xã là một chức năng quan trọng do các Ban của HĐND cấp xã thực hiện. Đây là hoạt động nghiên cứu, xem xét, đánh giá các dự thảo Nghị quyết, báo cáo, đề án và các tài liệu quan trọng khác trước khi trình ra toàn thể HĐND cấp xã để thảo luận và quyết định.
- Cơ quan thực hiện thẩm tra: Hoạt động thẩm tra ở cấp xã do các Ban của HĐND cấp xã đảm nhiệm. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định hiện hành, HĐND cấp xã có hai Ban chuyên môn là Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội. Mỗi Ban sẽ thẩm tra các vấn đề thuộc lĩnh vực phụ trách của mình.

- Quy trình về thẩm tra
Quy trình thẩm tra đối với một dự thảo Nghị quyết hoặc báo cáo quan trọng của HĐND cấp xã được thực hiện bởi các Ban của HĐND (Kinh tế -Ngân sách và Văn hóa - Xã hội) thường trải qua các bước chính sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và phân công nhiệm vụ
- Tiếp nhận Hồ sơ: Thường trực HĐND cấp xã nhận hồ sơ trình (Tờ trình, dự thảo Nghị quyết/báo cáo, báo cáo thẩm định của Văn phòng HĐND-UBND,...) từ cơ quan trình (UBND).
- Phân công: Thường trực HĐND cấp xã phân công Ban HĐND có liên quan (Kinh tế - Ngân sách hoặc Văn hóa - Xã hội) làm cơ quan chủ trì thẩm tra. Hồ sơ thẩm tra cần được gửi đến Ban HĐND chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp (theo quy định chung về Luật QPPL).
Bước 2: Nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị nội dung
- Nghiên cứu hồ sơ: Các thành viên của Ban HĐND tự nghiên cứu hồ sơ, phân tích theo các phương pháp tiếp cận góc độ pháp lý, thực tiễn, số liệu thống kê, so sánh…
- Khảo sát: Nếu cần thiết, Trưởng Ban tổ chức hoạt động khảo sát thực tế để kiểm chứng thông tin và đánh giá tính khả thi.
- Tổng hợp ý kiến sơ bộ: Tổng hợp các vấn đề cần làm rõ, các điểm chưa thống nhất hoặc chưa hợp lý để chuẩn bị cho cuộc họp thẩm tra.
Bước 3: Tổ chức Họp thẩm tra
- Triệu tập mời họp: Trưởng Ban của HĐND triệu tập cuộc họp thẩm tra với sự tham gia của đại diện cơ quan trình (UBND), các thành viên Ban, và các bên liên quan.
- Trình bày và chất vấn: Cơ quan trình thuyết minh về nội dung. Ban HĐND đưa ra các vấn đề đã nghiên cứu, chất vấn, và yêu cầu cơ quan trình giải trình, làm rõ các căn cứ pháp lý, tính khả thi, nguồn lực thực hiện và những điểm còn có ý kiến khác nhau.
- Kết luận: Chủ trì cuộc họp kết luận, yêu cầu cơ quan trình nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Ban HĐND để chỉnh lý dự thảo.
Bước 4: Xây dựng báo cáo thẩm tra
- Hoàn thiện báo cáo: Ban HĐND chính thức xây dựng báo cáo thẩm tra dựa trên kết quả nghiên cứu và cuộc họp thẩm tra. Báo cáo phải thể hiện rõ:
+ Sự cần thiết, hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản.
+ Tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.
+ Quan điểm, đề xuất và kiến nghị của Ban HĐND (ví dụ: đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc giữ nguyên nội dung nào).
- Gửi báo cáo: Báo cáo thẩm tra được gửi đến Thường trực HĐND cấp xã để đưa vào tài liệu kỳ họp, làm cơ sở để đại biểu thảo luận.
Bước 5: Trình bày tại Kỳ họp HĐND
- Báo cáo: Trưởng Ban HĐND trình bày báo cáo thẩm tra tại kỳ họp để toàn thể đại biểu HĐND xem xét.
- Tiếp thu và quyết định: Trên cơ sở báo cáo thẩm tra và ý kiến thảo luận của đại biểu, HĐND tiến hành biểu quyết thông qua Nghị quyết hoặc quyết định về các nội dung khác.

- 5. Tiêu chí thẩm tra.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các Ban của HĐND giúp HĐND thẩm tra dự thảo Nghị quyết, báo cáo, tờ trình do UBND cùng cấp trình. Trên cơ sở sự phân công của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tiến hành thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp, khả năng thực thi của dự thảo Nghị quyết, tờ trình, báo cáo do UBND trình HĐND.
Mục đích chính của thẩm tra là đảm bảo rằng các quyết định của HĐND cấp xã có căn cứ vững chắc, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi, đúng thẩm quyền, thể thức, nội dung, có chất lượng, hiệu quả hay không. Nội dung thẩm tra tập trung vào các tiêu chí sau:
+ Xem xét sự cần thiết ban hành văn bản; Đảm bảo sự phù hợp của nội dung dự thảo Nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước;
+ Đảm bảo tính hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo Nghị quyết; vấn đề còn có ý kiến khác nhau: Xem xét dự thảo Nghị quyết, báo cáo có tuân thủ quy định của pháp luật, Nghị quyết của HĐND cấp trên và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương hay không. Đánh giá tính khả thi của các biện pháp, chính sách được đề xuất.
+ Nâng cao chất lượng quyết định: Giúp phát hiện những sai sót, thiếu sót, hoặc những điểm chưa hợp lý, chưa khả thi trong các nội dung do Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan khác trình.
+ Làm cơ sở cho đại biểu biểu quyết: Xác định tính chính xác, khách quan của các số liệu, nội dung trong các báo cáo. Cung cấp thông tin đa chiều, khách quan và các ý kiến chuyên môn sâu để đại biểu HĐND có đủ cơ sở đưa ra ý kiến thảo luận và quyết định cuối cùng tại kỳ họp.
- 6. Kỹ năng tổ chức hoạt động thẩm tra.
Thẩm tra các nội dung trình kỳ họp của HĐND cấp xã là một nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu do hai Ban hiện nay là Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội thực hiện nhằm đảm bảo tính đúng đắn, hợp pháp và khả thi của các báo cáo, đề án, và dự thảo Nghị quyết trước khi trình HĐND xem xét, quyết định. Để nâng cao chất lượng của công tác tổ chức hoạt động thẩm tra thì kỹ năng cần thiết và quy trình cơ bản:
- Khảo sát, thu thập thông tin
Trước khi họp thẩm tra: Chủ động khảo sát thực tế tại các cơ quan, đơn vị liên quan hoặc khu dân cư để thu thập thông tin, lắng nghe ý kiến của đối tượng chịu sự tác động để có cái nhìn đa chiều, khách quan, tránh việc báo cáo thẩm tra sơ sài, thiếu căn cứ.
- Tổ chức cuộc họp thẩm tra
Lập kế hoạch chi tiết: Xác định rõ nội dung trọng tâm cần thẩm tra, thành phần tham dự (cơ quan soạn thảo, các bên liên quan, thành viên Ban HĐND).
Điều hành cuộc họp: Chủ động, linh hoạt, tạo không khí dân chủ, cởi mở, tập trung thảo luận vào những vấn đề còn ý kiến khác nhau hoặc những điểm mấu chốt (tính hợp pháp, tính khả thi, nguồn lực, những vấn đề còn ý kiến khác nhau).
Yêu cầu giải trình: Yêu cầu cơ quan soạn thảo giải trình, làm rõ các vấn đề còn vướng mắc, chưa thuyết phục trong hồ sơ trình.
Xây dựng báo cáo thẩm tra: báo cáo thẩm tra phải nêu rõ quan điểm của Ban HĐND về sự phù hợp, tính khả thi của nội dung được thẩm tra.
Đề xuất, kiến nghị: Nêu cụ thể các đề xuất, kiến nghị đối với HĐND, Thường trực HĐND và cơ quan soạn thảo về việc: Giữ nguyên hoặc chỉnh sửa, bổ sung nội dung nào; Phương án xử lý đối với những nội dung còn có ý kiến khác nhau; Lộ trình hoặc biện pháp thực hiện nếu được thông qua.
Kỹ năng xây dựng báo cáo thẩm tra là hết sức quan trọng. Chú ý báo cáo cần có cấu trúc rõ ràng, lô gíc (mô tả quy trình, nhận xét chung, nhận xét cụ thể, và kiến nghị) để đảm bảo Đại biểu HĐND dễ dàng tiếp cận, theo dõi. Kiến nghị cụ thể: Khả năng đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung một cách rõ ràng, cụ thể (ví dụ: "Đề nghị sửa đổi Khoản 3, Điều 4 thành...") thay vì chỉ nêu chung chung.
Lưu ý:
- Các văn bản gửi đến trình thẩm tra thường khá trễ do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó các Ban của HĐND theo kế hoạch, chương trình công tác có thể chủ động liên hệ với cơ quan soạn thảo để nhận hồ sơ, nghiên cứu và tiến hành thẩm tra kịp thời, đảm bảo khách quan và chất lượng.
- Cần có thái độ lắng nghe tích cực: Khả năng lắng nghe, ghi nhận và phân loại các ý kiến đóng góp, kể cả những ý kiến trái chiều, để tổng hợp thành quan điểm thẩm tra.
- Kỹ năng thẩm tra cần được điều chỉnh linh hoạt tùy thuộc vào loại văn bản trình HĐND cấp xã. Dưới đây là các kỹ năng trọng tâm cần áp dụng đối với dự thảo Nghị quyết:
+ Dự thảo Nghị quyết yêu cầu kỹ năng thẩm tra tập trung vào khía cạnh pháp lý và tính khả thi của chính sách. Cần kỹ năng đối chiếu văn bản: Xem xét dự thảo Nghị quyết có trùng lặp, mâu thuẫn hay trái với các quy định của Hiến pháp, Luật, và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hay không.
+ Kỹ năng xác định thẩm quyền: Đánh giá HĐND cấp xã có đúng thẩm quyền để ban hành Nghị quyết về vấn đề đó hay không, đặc biệt là trong lĩnh vực thu chi ngân sách, đầu tư công và các biện pháp hành chính.
+ Kỹ năng kiểm tra quy trình: Đảm bảo trình tự, thủ tục soạn thảo và lấy ý kiến đã tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (như đã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, đã có báo cáo thẩm định nội bộ).
+ Kỹ năng đánh giá tính khả thi và thực tiễn.
Kỹ năng phân tích tác động: Phân tích những tác động kinh tế, xã hội, môi trường của chính sách mới (ví dụ: Nghị quyết về phí, lệ phí hoặc quy hoạch) đối với người dân và doanh nghiệp trên địa bàn xã.
Kỹ năng đánh giá nguồn lực: Đánh giá khả năng cân đối ngân sách cấp xã và các nguồn lực khác (nhân lực, vật lực) để triển khai Nghị quyết thành công. Nếu Nghị quyết ở mức "vượt quá sức" của địa phương thì phải kiến nghị hoãn hoặc sửa đổi.
Kỹ năng dự báo rủi ro: Chỉ ra những rào cản, khó khăn có thể phát sinh khi triển khai trong thực tiễn địa phương và đề xuất các giải pháp phòng ngừa.
+ Kỹ năng hoàn thiện kỹ thuật văn bản: đảm bảo ngôn ngữ trong Nghị quyết rõ ràng, chính xác, không gây hiểu lầm, không dùng từ ngữ cảm tính hoặc mơ hồ. Kỹ năng kiểm tra thể thức: đảm bảo văn bản được trình bày theo đúng quy định hiện hành về thể thức văn bản quy phạm pháp luật.
- 7. Viết báo cáo thẩm tra.
Báo cáo thẩm tra là văn bản thể hiện chính kiến, quan điểm đánh giá của Ban Hội đồng nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết, đề án, báo cáo và các tài liệu trình kỳ họp. Đây không chỉ là căn cứ để đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu, thảo luận và quyết định, mà còn là công cụ phản biện, rà soát nhằm bảo đảm Nghị quyết được ban hành đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật và phù hợp với thực tiễn địa phương. Vì vậy, viết báo cáo thẩm tra là một kỹ năng quan trọng, đòi hỏi sự kết hợp giữa hiểu biết pháp luật, tư duy tổng hợp, năng lực phân tích và kỹ năng hành chính.
+ Nắm vững căn cứ pháp lý và xác định đúng thẩm quyền quyết định
Khi xây dựng báo cáo thẩm tra, yêu cầu trước hết là phải nghiên cứu kỹ căn cứ pháp lý liên quan đến nội dung dự thảo Nghị quyết. Người viết cần rà soát, đối chiếu để xác định rõ nội dung trình có thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân hay không; có phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định hiện hành hay không. Việc kiểm tra này cần bám sát các văn bản pháp luật nền tảng như Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các luật chuyên ngành liên quan. Đối với dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, cần nghiên cứu thêm Nghị định 78/2025/NĐ-CP và Nghị định 187/2025/NĐ-CP để bảo đảm đúng quy trình, thủ tục. Đây là bước nền tảng quyết định chất lượng của toàn bộ báo cáo thẩm tra.
+ Nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hồ sơ trình kỳ họp
Báo cáo thẩm tra chỉ bảo đảm chất lượng khi được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ hồ sơ trình. Cần xem xét toàn diện các tài liệu kèm dự thảo theo như tờ trình, báo cáo thuyết minh, báo cáo đánh giá tác động, báo cáo giải trình, tiếp thu, các phụ lục, số liệu và tài liệu liên quan khác. Thông qua việc nghiên cứu đồng bộ hồ sơ, Ban Hội đồng nhân dân có điều kiện phát hiện những điểm chưa thống nhất giữa nội dung dự thảo với căn cứ pháp lý, số liệu, nguồn lực hoặc giải pháp tổ chức thực hiện.
+ Xác định đúng trọng tâm và nội dung cần thẩm tra
Một báo cáo thẩm tra có chất lượng phải tập trung vào những vấn đề cốt lõi cần Hội đồng nhân dân xem xét trước khi quyết định. Trong đó, cần làm rõ sự cần thiết ban hành Nghị quyết; căn cứ pháp lý; sự phù hợp với chủ trương, chính sách; tính hợp hiến, hợp pháp; tính thống nhất với hệ thống pháp luật; tính khả thi và điều kiện bảo đảm tổ chức thực hiện. Việc xác định đúng trọng tâm giúp báo cáo thẩm tra ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn phản ánh đầy đủ các vấn đề then chốt, tạo thuận lợi cho đại biểu trong quá trình nghiên cứu và thảo luận.
+ Thể hiện rõ quan điểm, chính kiến thẩm tra của Ban Hội đồng nhân dân
Bản chất của báo cáo thẩm tra là văn bản phản biện và kiến nghị, do đó phải thể hiện rõ quan điểm của Ban Hội đồng nhân dân đối với từng nội dung trình. Báo cáo không nên chỉ dừng ở việc mô tả hoặc nêu nhận xét chung chung mà cần chỉ rõ nội dung nào thống nhất, nội dung nào chưa phù hợp, những vấn đề cần chỉnh sửa, bổ sung hoặc chưa đủ điều kiện trình thông qua. Các nhận định phải có căn cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ và gắn với quy định pháp luật hoặc tình hình thực tiễn. Việc nêu rõ chính kiến sẽ góp phần nâng cao giá trị định hướng của báo cáo, giúp đại biểu có thêm cơ sở khách quan khi xem xét, biểu quyết.
+ Bảo đảm văn phong chính xác, ngắn gọn, mạch lạc và có tính lập luận
Ngôn ngữ trong báo cáo thẩm tra cần bảo đảm tính hành chính, chuẩn mực, khách quan và chặt chẽ. Mỗi nội dung nên được trình bày theo trình tự: nhận định vấn đề, phân tích căn cứ và đề xuất kiến nghị. Việc diễn đạt phải ngắn gọn nhưng rõ ý, tránh dài dòng, lặp lại hoặc sử dụng ngôn ngữ cảm tính. Một báo cáo thẩm tra tốt không chỉ nêu vấn đề mà còn phải lý giải nguyên nhân, chỉ ra cơ sở pháp lý và đề xuất hướng xử lý cụ thể. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao tính thuyết phục và hiệu quả sử dụng của báo cáo trong kỳ họp.
+ Kết luận, kiến nghị rõ ràng, định hướng cho việc quyết định của Hội đồng nhân dân
Phần kết luận của báo cáo thẩm tra cần thể hiện rõ quan điểm cuối cùng của Ban Hội đồng nhân dân về mức độ hoàn thiện của hồ sơ và khả năng trình thông qua Nghị quyết. Trên cơ sở thẩm tra, Ban có thể kiến nghị Hội đồng nhân dân xem xét thông qua; thông qua nhưng yêu cầu chỉnh lý, bổ sung trước khi ban hành; hoặc chưa xem xét thông qua nếu hồ sơ chưa bảo đảm điều kiện. Kiến nghị càng rõ ràng, cụ thể thì càng tạo thuận lợi cho đại biểu trong quá trình thảo luận, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan trình và cơ quan tham mưu.
+ Gắn nội dung thẩm tra với thực tiễn địa phương và yêu cầu tổ chức thực hiện
Ngoài căn cứ pháp lý, báo cáo thẩm tra cần phản ánh được thực tiễn của địa phương và khả năng triển khai sau khi Nghị quyết được ban hành. Người viết cần khai thác thông tin từ hoạt động giám sát, khảo sát, tiếp xúc cử tri, báo cáo chuyên môn của các cơ quan chức năng và kết quả thực hiện các Nghị quyết trước đó. Điều này giúp báo cáo không chỉ đúng luật mà còn sát thực tế, có tính dự báo và khả năng ứng dụng cao trong quản lý, điều hành ở địa phương.
Kỹ năng viết báo cáo thẩm tra là sự tổng hợp của năng lực nghiên cứu pháp luật, kỹ năng xử lý hồ sơ, tư duy phản biện và khả năng lập luận hành chính. Một báo cáo thẩm tra chất lượng phải giúp đại biểu Hội đồng nhân dân có đủ cơ sở để trả lời ba vấn đề cốt lõi: nội dung trình có đúng thẩm quyền hay không, có phù hợp pháp luật hay không và có khả thi trong thực tiễn hay không. Đây chính là tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động của Ban Hội đồng nhân dân trong thực hiện chức năng thẩm tra, phục vụ chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân.

- Xem xét, thông qua dự thảo Nghị quyết
(1) Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo Nghị quyết để gửi đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân. Hồ sơ gửi bằng bản điện tử và 01 bản giấy, bao gồm:
- Tài liệu Tờ trình; Dự thảo Nghị quyết; Tài liệu khác (nếu có); Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý và báo cáo thẩm định, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định.
- Báo cáo thẩm tra
(2) Việc xem xét, thông qua dự thảo Nghị quyết tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:
- Đại diện cơ quan, tổ chức trình dự thảo thuyết trình dự thảo Nghị quyết;
- Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
- Hội đồng nhân dân thảo luận. Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng nhân dân, cơ quan trình có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo. Cơ quan trình báo cáo Hội đồng nhân dân về dự thảo đã được chỉnh lý. Cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Hội đồng nhân dân ý kiến về dự thảo đã được chỉnh lý.
Trường hợp dự thảo có nội dung quan trọng, phức tạp hoặc còn có ý kiến khác nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý thì Hội đồng nhân dân tự mình hoặc theo đề Nghị của cơ quan trình quyết định lùi thời điểm trình Hội đồng nhân dân thông qua;
- Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết.
(3) Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực Nghị quyết.
- Thực hiện chức năng quyết định:
- Nội dung quyết định của HĐND xã
Theo quy định tại Điều 21 Luật số 72/2025, HĐND cấp xã có 09 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu. Việc chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp đặt ra yêu cầu phân định lại thẩm quyền giữa các cấp, đặc biệt là chuyển một số công việc vốn do cấp huyện đảm nhiệm về cấp tỉnh hoặc cấp xã. Để triển khai, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết về phân cấp, phân quyền trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, bảo đảm bộ máy mới không bỏ sót nhiệm vụ, cụ thể:
1.1. Nhóm nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật
HĐND cấp xã có thẩm quyền ban hành Nghị quyết về các vấn đề thuộc phạm vi quản lý; quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương. Điểm mới quan trọng của Luật số 72/2025 là bổ sung thẩm quyền quyết định chính sách, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khuyến khích kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - những nội dung trước đây chủ yếu do cấp huyện hoặc cấp tỉnh đảm nhiệm. Ngoài ra, HĐND cấp xã có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp; đồng thời có trách nhiệm tự sửa đổi, bãi bỏ, bổ sung văn bản do mình ban hành khi xét thấy không còn phù hợp hoặc trái pháp luật.
1.2. Nhóm nhiệm vụ về tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền
Theo Luật số 72/2025, HĐND cấp xã được quyết định việc thành lập, tổ chức lại, thay đổi tên gọi, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc UBND cùng cấp - thẩm quyền mới so với trước đây chỉ cấp huyện, tỉnh mới có. HĐND cấp xã cũng được quyết định số lượng biên chế cán bộ, công chức, số người hưởng lương từ ngân sách trong phạm vi chỉ tiêu tỉnh giao, qua đó tăng tính chủ động của địa phương.
Luật số 72/2025 quy định HĐND cấp xã được xem xét cho ý kiến về việc thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp xã; đồng thời có quyền trực tiếp quyết định việc sắp xếp, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố - trước đây thuộc thẩm quyền HĐND tỉnh. Xã cũng được quy định số lượng người hoạt động không chuyên trách hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước theo quy định của tỉnh. Ngoài ra, HĐND cấp xã được ban hành Quy chế làm việc của mình và các cơ quan trực thuộc.
Về nhân sự, HĐND cấp xã tiếp tục có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của HĐND và UBND xã; đồng thời có thẩm quyền bãi nhiệm hoặc chấp thuận cho đại biểu thôi nhiệm vụ đại biểu HĐND, bảo đảm công tác nhân sự chặt chẽ, minh bạch hơn.
1.3. Nhóm nhiệm vụ về quy hoạch, kế hoạch, đầu tư, tài chính - ngân sách, liên kết hợp tác cấp xã
Luật số 72/2025 trao cho HĐND cấp xã thẩm quyền rộng hơn trong công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển. Nếu trước đây HĐND cấp xã chỉ thông qua kế hoạch kinh tế - xã hội hằng năm, thì nay được quyết định cả kế hoạch trung hạn 5 năm, bảo đảm phù hợp với quy hoạch của tỉnh và quy hoạch chung đã được phê duyệt.
Trong lĩnh vực ngân sách, Luật số 72/2025 quy định thẩm quyền của HĐND cấp xã được quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh dự toán ngân sách cấp mình trong trường hợp cần thiết. Đặc biệt, theo Nghị định số 125/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, HĐND cấp xã còn được giao thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trước đây thuộc HĐND huyện trong quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn (như Chương trình nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng…). Quy định này trao thêm quyền cho HĐND cấp xã trong việc quyết định nội dung cụ thể của các chương trình, bảo đảm triển khai hiệu quả ngay từ cơ sở.
Trong lĩnh vực đầu tư công, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án trên địa bàn theo pháp luật về đầu tư công; quyết định biện pháp huy động đóng góp của Nhân dân để xây dựng hạ tầng, công trình công cộng, phúc lợi địa phương - một thẩm quyền mới, giúp minh bạch hóa việc huy động và tăng quyền chủ động của cơ sở.
Ngoài ra, lần đầu tiên, Luật số 72/2025 quy định HĐND cấp xã có thể quyết định biện pháp thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các đơn vị hành chính cấp xã nhằm giải quyết những vấn đề chung như quản lý công trình liên xã hay phát triển kinh tế vùng. HĐND cấp xã còn được quyết định các chương trình, biện pháp hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, góp phần khuyến khích kinh tế cơ sở và nâng cao đời sống Nhân dân.
1.4. Nhóm nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Đây là nhóm nhiệm vụ hoàn toàn mới được bổ sung trong Luật số 72/2025, phù hợp xu thế hiện đại hóa quản lý nhà nước. HĐND cấp xã có quyền quyết định các biện pháp, chương trình, đề án phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn. Việc bổ sung thẩm quyền khẳng định vai trò của chính quyền cơ sở trong xây dựng xã hội số. HĐND cấp xã có thể ban hành Nghị quyết về chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; quyết định giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung ứng dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Nhờ vậy, xã có thể chủ động trang bị hệ thống họp trực tuyến, áp dụng phần mềm quản lý hồ sơ công dân, hay thúc đẩy người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đây là bước phân cấp quan trọng, giúp cấp xã linh hoạt hơn trong triển khai mục tiêu khoa học - công nghệ, đồng thời gắn với trách nhiệm giám sát quá trình chuyển đổi số tại địa phương.
1.5. Trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, môi trường, nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng và giao thông
Luật số 72/2025 mở rộng thẩm quyền của HĐND cấp xã trong quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế. Trước hết, HĐND cấp xã được thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. HĐND cấp xã được quyết định biện pháp quản lý, khai thác hiệu quả đất đai, tài nguyên nước, rừng và bảo vệ môi trường trên địa bàn theo quy hoạch, pháp luật; có quyền quyết định giải pháp phòng chống thiên tai, dịch bệnh tại chỗ. Những thẩm quyền này trước đây thuộc thẩm quyền của HĐND cấp huyện, nay được điều chỉnh về cấp xã nhằm đảm bảo phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Cùng với đó, theo Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, HĐND cấp xã được giao thêm các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp gắn với bảo vệ môi trường, như: phê duyệt phương án sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; xét duyệt quyết toán kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng; phê duyệt kế hoạch tài chính và quyết toán ngân sách xã trong cơ chế thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính; quyết định bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo phân cấp ngân sách. Đây là sự bổ sung quan trọng, cấp xã trực tiếp tham gia vào các chính sách quản lý tài nguyên rừng, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.
Trong phát triển kinh tế, HĐND cấp xã có quyền bàn và quyết định các biện pháp phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng, giao thông. Đặc biệt, HĐND cấp xã được giao quyết định biện pháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; được quyền chủ động thông qua biện pháp phù hợp thực tiễn, từ huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện đến giám sát kết quả - thể hiện xu hướng phân cấp gắn với trách nhiệm, trao quyền để xã linh hoạt trong phát triển nông thôn.
Ngoài ra, trong lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị, theo Nghị định số 140/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính sách phát triển nhà ở xã hội tại địa phương. Cụ thể, HĐND cấp xã có thể quyết định sử dụng vốn ủy thác của Quỹ phát triển nhà ở địa phương (nếu có), vốn hỗ trợ ngân sách hằng năm, vốn vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách xã hội, cũng như nguồn huy động từ trái phiếu, công trái nhà ở và các nguồn hợp pháp khác. Quy định này giúp HĐND cấp xã tham gia trực tiếp vào việc phát triển quỹ nhà ở xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở cho người dân ngay tại cơ sở.
Như vậy, So với Luật 2015, thẩm quyền của HĐND cấp xã trong nhóm lĩnh vực này đã được mở rộng đáng kể, từ quy hoạch, quản lý tài nguyên đến phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng đô thị, nông thôn. Sự phân cấp này vừa tăng tính chủ động cho chính quyền cơ sở, vừa đặt ra yêu cầu HĐND cấp xã phải chịu trách nhiệm cao hơn trong quản lý, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
1.6. Nhóm nhiệm vụ về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, thể dục thể thao
Luật số 72/2025 bổ sung rõ vai trò của HĐND cấp xã trong phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội, phân cấp nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện. HĐND cấp xã được quyết định biện pháp phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân; đồng thời quyết định các giải pháp phát triển văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao trên địa bàn. Trên cơ sở đó, HĐND cấp xã có thể ban hành Nghị quyết huy động nguồn lực để sửa chữa trường lớp, xây dựng sân thể thao, thành lập điểm sinh hoạt văn hóa, hoặc hỗ trợ hoạt động y tế dự phòng tại trạm y tế xã.
Theo Nghị định số 142/2025/NĐ-CPngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, HĐND cấp xã được trao thêm thẩm quyền trong quản lý giáo dục địa bàn: phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục xã, phường theo đề nghị của UBND cùng cấp; quyết định các chương trình, dự án phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phù hợp chiến lược của tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đây là sự mở rộng đáng kể, bảo đảm HĐND cấp xã không chỉ thông qua kế hoạch chung mà còn trực tiếp quyết định định hướng phát triển giáo dục ở cơ sở.
Ngoài ra, HĐND cấp xã có thẩm quyền quyết định biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm và chăm lo cho các đối tượng yếu thế như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công. Việc trao quyền này giúp HĐND cấp xã phát huy lợi thế gần dân, hiểu rõ hoàn cảnh từng đối tượng để đưa ra biện pháp sát thực tế và giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện.
1.7. Nhóm nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo
Trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, HĐND cấp xã tiếp tục giữ vai trò quan trọng và được Luật số 72/2025 bổ sung thêm nhiều thẩm quyền: HĐND cấp xã có quyền quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Nếu như Luật TCCQĐP năm 2015 chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp là bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phòng chống tội phạm “trong phạm vi được phân quyền”, thì Luật số 72/2025 đã mở rộng ra toàn diện hơn, bao gồm cả nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Đặc biệt, HĐND cấp xã có quyền quyết định biện pháp xây dựng, củng cố lực lượng dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật. Như vậy, Luật mới đã tạo cơ sở pháp lý để HĐND cấp xã tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ quốc phòng toàn dân ngay từ cơ sở.
Đối với công tác dân tộc, tôn giáo, Luật số 72/2025 trao thêm nhiều quyền hạn cho HĐND cấp xã được quyết định các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo trên địa bàn. Sự bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn này giúp HĐND cấp xã phát huy tính chủ động, gắn kết chính sách với thực tiễn cơ sở, làm cho công tác dân tộc, tôn giáo đi vào cuộc sống hiệu quả và sát thực hơn.
1.8. Nhóm nhiệm vụ về giám sát
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND cấp xã có chức năng giám sát quan trọng. Luật số 72/2025 khẳng định HĐND cấp xã giám sát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của HĐND cấp xã, cũng như hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban và UBND cùng cấp. Đây là những nội dung cơ bản đã có từ Luật TCCQĐP năm 2015 và nay tiếp tục được duy trì.
Điểm mới nổi bật của Luật số 72/2025 là mở rộng phạm vi giám sát sang “cơ quan khác ở địa phương”. Điều này hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh bộ máy chính quyền cấp xã đã được điều chỉnh, mở rộng để thực hiện nhiệm vụ chính quyền 02 cấp, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm mọi hoạt động ở cơ sở đều phục vụ lợi ích nhân dân và tuân thủ pháp luật.
1.9. Nhóm nhiệm vụ về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Luật số 72/2025 giao HĐND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được cấp trên phân cấp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác do pháp luật quy định. Quy định này tạo cơ sở để HĐND cấp xã tiếp nhận kịp thời mọi công việc do Chính phủ, HĐND tỉnh phân cấp, cũng như những nhiệm vụ do luật chuyên ngành quy định. Điều này bảo đảm tính bao quát, khẳng định nguyên tắc phân định thẩm quyền rõ ràng, không chồng chéo; nhiệm vụ đã giao cho xã thì cấp trên không làm thay, đồng thời phải bảo đảm nguồn lực để xã thực hiện.
Đặc thù nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường
Do đặc thù của đơn vị hành chính đô thị, pháp luật quy định một số điểm riêng về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường (theo điều 24, Luật tổ chức chính quyền địa phương). Về cơ bản, HĐND phường thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn như HĐND cấp xã, ngoại trừ những nội dung liên quan đến “thôn”. Bên cạnh đó, HĐND phường được giao thêm một số thẩm quyền phù hợp với tính chất đô thị:
- Quyết định biện pháp thực hiện quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địa bàn, bảo đảm phù hợp quy hoạch chung của tỉnh.
- Quyết định biện pháp khuyến khích phát triển kinh tế đô thị, thúc đẩy thương mại, dịch vụ, tài chính, ứng dụng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo.
- Quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố; xác định số lượng người hoạt động không chuyên trách ở phường hưởng phụ cấp theo khung của tỉnh.
HĐND phường được coi là “phiên bản đô thị” của HĐND cấp xã, với đầy đủ thẩm quyền chung và được bổ sung thêm công cụ để quản lý, giám sát quá trình phát triển đô thị - nơi có tính năng động và phức tạp cao hơn khu vực nông thôn.
- Vị trí báo cáo thẩm tra đối với chức năng quyết định của HĐND
Báo cáo thẩm tra giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong quy trình thực hiện chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân, bởi đây là căn cứ quan trọng giúp đại biểu HĐND xem xét, thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền một cách đúng pháp luật, khách quan và khả thi. Cụ thể, vị trí của báo cáo thẩm tra thể hiện ở một số nội dung sau:
- Báo cáo thẩm tra là khâu kiểm chứng và phản biện độc lập đối với hồ sơ trình HĐND.
Trước khi HĐND xem xét thông qua Nghị quyết hoặc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, các Ban của HĐND tiến hành thẩm tra đối với tờ trình, đề án, dự thảo Nghị quyết và các tài liệu liên quan. Báo cáo thẩm tra chính là sản phẩm thể hiện kết quả đánh giá độc lập, khách quan của Ban HĐND về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, sự phù hợp với chủ trương, chính sách và tình hình thực tiễn địa phương.
- Báo cáo thẩm tra là cơ sở quan trọng để đại biểu HĐND nghiên cứu và đưa ra quyết định.
Không phải mọi đại biểu đều có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu toàn bộ hồ sơ, tài liệu trình kỳ họp. Vì vậy, báo cáo thẩm tra đóng vai trò “bộ lọc chuyên môn”, giúp đại biểu nắm được những nội dung cốt lõi, những vấn đề còn vướng mắc, bất cập, chưa bảo đảm tính khả thi hoặc cần tiếp tục chỉnh lý trước khi quyết nghị.
- Báo cáo thẩm tra góp phần nâng cao chất lượng Nghị quyết của HĐND.
Thông qua hoạt động thẩm tra, các Ban HĐND có thể phát hiện những nội dung chưa phù hợp trong dự thảo Nghị quyết, những căn cứ pháp lý chưa đầy đủ, số liệu chưa bảo đảm độ tin cậy hoặc giải pháp chưa sát thực tiễn. Các kiến nghị trong báo cáo thẩm tra giúp cơ quan soạn thảo tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ, từ đó nâng cao chất lượng nội dung Nghị quyết trước khi HĐND thông qua.
- Báo cáo thẩm tra bảo đảm tính dân chủ, khách quan và trách nhiệm trong hoạt động quyết định của HĐND.
Báo cáo thẩm tra không chỉ nêu quan điểm đồng thuận mà còn chỉ rõ những nội dung còn có ý kiến khác nhau, những vấn đề cần xin ý kiến đại biểu hoặc chưa đủ điều kiện thông qua. Điều này góp phần hạn chế tình trạng quyết định mang tính hình thức, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và đại biểu HĐND.
- Báo cáo thẩm tra là công cụ hỗ trợ HĐND thực hiện đồng thời chức năng quyết định và giám sát.
Thông qua thẩm tra, Ban HĐND không chỉ xem xét tính phù hợp của nội dung trình quyết định mà còn đánh giá việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết, chính sách hiện hành, qua đó lồng ghép yếu tố giám sát vào quá trình chuẩn bị quyết định.
Vì vậy, báo cáo thẩm tra là cầu nối giữa hồ sơ trình và quyết định của HĐND; là căn cứ phản biện, tham mưu và định hướng để HĐND ban hành các Nghị quyết đúng pháp luật, sát thực tiễn và khả thi.

- Vai trò của đại biểu đối với chức năng quyết định của HĐND
Với tư cách là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân là cầu nối giữa cử tri với cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm các quyết định của Hội đồng nhân dân vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương. Đại biểu Hội đồng nhân dân đóng vai trò "hạt nhân" và quyết định trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả chức năng quyết định của HĐND. Chất lượng các Nghị quyết và hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc lớn vào năng lực, trách nhiệm và bản lĩnh của đại biểu. Vai trò đó thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
- Đại biểu HĐND là chủ thể trực tiếp tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND.
Thông qua việc thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết tại kỳ họp, đại biểu quyết định việc thông qua hay không thông qua các Nghị quyết liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, dự toán và phân bổ ngân sách, đầu tư công, quốc phòng, an ninh và các chính sách quan trọng của địa phương. Với nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số, mỗi đại biểu HĐND không chỉ thực hiện quyền biểu quyết mà còn thể hiện chính kiến, trách nhiệm và bản lĩnh trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.
- Đại biểu HĐND tham gia nâng cao chất lượng Nghị quyết thông qua hoạt động nghiên cứu, thẩm định và phản biện.
Trước khi HĐND quyết định, đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu, báo cáo, tờ trình và dự thảo Nghị quyết; từ đó đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính cần thiết, tính khả thi và tác động của chính sách. Thông qua thảo luận, chất vấn, tranh luận và đề xuất chỉnh sửa, đại biểu góp phần phát hiện những nội dung chưa phù hợp, chưa sát thực tiễn hoặc còn thiếu căn cứ để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết trước khi thông qua.
- Đại biểu HĐND là cầu nối giữa cử tri, Nhân dân với HĐND trong hoạt động quyết định.
Thông qua tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư, kiến nghị và phản ánh từ cơ sở, đại biểu nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, vướng mắc và yêu cầu thực tiễn của Nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng để đại biểu phản ánh tiếng nói của cử tri vào nghị trường, bảo đảm các quyết định của HĐND xuất phát từ thực tiễn đời sống và đáp ứng lợi ích chính đáng của Nhân dân.
- Đại biểu HĐND góp phần bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của các quyết định thông qua hoạt động giám sát.
Sau khi Nghị quyết được ban hành, đại biểu tiếp tục theo dõi, giám sát việc triển khai thực hiện, kịp thời phát hiện những khó khăn, bất cập hoặc nội dung không còn phù hợp để kiến nghị điều chỉnh, bổ sung. Hoạt động này tạo thành vòng khép kín giữa quyết định và giám sát, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương.
- Năng lực, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của đại biểu là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của HĐND.
Một đại biểu có trình độ, bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phản biện tốt, dám nêu chính kiến và chịu trách nhiệm trước cử tri sẽ góp phần nâng cao chất lượng thảo luận, quyết nghị và hiệu quả hoạt động chung của HĐND. Ngược lại, nếu đại biểu thiếu kỹ năng, thiếu nghiên cứu hoặc chưa phát huy vai trò thì chất lượng quyết định của HĐND khó bảo đảm.
Như vậy, đại biểu HĐND không chỉ là người tham gia biểu quyết mà còn là chủ thể trung tâm trong toàn bộ quy trình quyết định của HĐND, từ khâu chuẩn bị, thảo luận, quyết định đến giám sát thực hiện Nghị quyết. Vì vậy, nâng cao chất lượng đại biểu chính là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND trong thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương.
Lượt xem: 45