Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026
Sáng ngày 25/6, tại Kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh Khóa XIX, Ban Kinh tế - Ngân sách được phân công thẩm tra 6 báo cáo, 12 Tờ trình, dự thảo Nghị quyết trên lĩnh vực kinh tế và ngân sách.Thay mặt Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh, đồng chí Nguyễn Thị Thúy Nga - Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã báo cáo kết quả thẩm tra như sau

Đồng chí Nguyễn Thị Thúy Nga - Ủy viên Thường trực, Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh trình bày báo cáo thẩm tra tại kỳ họp.
- Về tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách, đầu tư công, chỉ đạo điều hành 6 tháng đầu năm 2026
Năm 2026 là năm tiền đề triển khai thực hiện nhiệm vụ nhiệm phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2026-2030), đòi hỏi cả hệ thống chính trị nỗ lực, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, giá vàng, ngoại tệ, xăng, dầu, nguyên vật liệu biến động liên tục, đã tác động trực tiếp đến trong nước và Hà Tĩnh. Dù vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng cơ bản ổn định, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn được bảo đảm.
1.Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất với những kết quả tích cực đã được Ủy ban nhân dân tỉnh đánh giá. Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức từ bối cảnh quốc tế và trong nước, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng của tỉnh dự kiến tăng khoảng 13-14%; trong đó, khu vực Công nghiệp - Xây dựng tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 32,83%; các sản phẩm chủ lực và sản phẩm mới đóng góp tích cực cho tăng trưởng. Đã đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm như Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy thủy điện Vũ Quang.

Các đại biểu tham dự kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 11.932 tỷ đồng, đạt 63% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao, tăng 8% so với cùng kỳ. Tín dụng tăng trưởng ổn định, nợ xấu được kiểm soát an toàn.
Tổng giá trị giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công trên địa bàn đạt 48,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và bằng 36,4% kế hoạch địa phương triển khai, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công. Thu hút đầu tư đạt kết quả nổi bật về cả số lượng và quy mô vốn; doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng khá. Hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tỉnh đảm bảo tiến độ; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện. Tập trung cao xử lý các dự án tồn đọng kéo dài và sắp xếp, xử lý tài sản dôi dư. Kịp thời xây dựng phương án sử dụng nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại của ngân sách cấp tỉnh năm 2025 để giao bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026.
- Về Khó khăn, hạn chế: Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất như báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh đã nêu. Đồng thời, Ban đề nghị đánh giá kỹ 07 nhóm vấn đề sau:
(1)Thứ nhất, tăng trưởng GRDP ở mức khá cao; tuy vậy, quy mô nền kinh tế và sức cạnh tranh còn khiêm tốn; tăng trưởng vẫn phụ thuộc vào một số sản phẩm công nghiệp chủ lực (như thép, điện...). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 tuy có cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp xếp thứ 26/34 tỉnh, thành phố.
Hiệu quả đầu tư, khai thác nguồn lực đất đai và năng suất lao động xã hội còn chưa cao; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng; nhu cầu nguồn lực cho phát triển rất lớn nhưng khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế.
(2) Thứ hai, Việc nhân rộng các mô hình hữu cơ, tuần hoàn chưa được chú trọng đúng mức. Công tác tích tụ ruộng đất, xây dựng nông thôn mới chưa có đột phá mạnh mẽ, một số tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn thiếu bền vững, hạ tầng của một số xã miền núi còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Mặc dù quy mô của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có tăng nhưng tỷ trọng trong cơ cấu GRDP ngày càng giảm và đóng góp chưa tương xứng vào mức tăng trưởng chung trong toàn ngành.
(3) Thứ ba, hoạt động xuất khẩu đạt tỷ lệ thấp so với kế hoạch (38%); cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thiếu đa dạng, sản phẩm chủ yếu là thép và phôi thép chiếm tới 85,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thực tế này khiến nền kinh tế địa phương đối mặt với với nhiều rủi ro, tiềm ẩn trước biến động thị trường quốc tế. Công tác quảng bá, xúc tiến được quan tâm mạnh mẽ, triển khai thực hiện thông qua nhiều hình thức, nhưng kết quả chưa rõ nét, chưa tạo được đột phá.
(4) Thứ tư, Thu từ thuế, phí và lệ phí đạt 58% dự toán, cơ bản đáp ứng tiến độ thực hiện nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ. Một số khoản thu lớn trong dự toán có tỷ lệ thực hiện thấp hơn kỳ vọng và thấp hơn so với cùng kỳ. Cơ cấu nguồn thu chưa thể hiện tính bền vững, vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ đất đai (chiếm 45% thu nội địa). Ủy ban nhân dân cần có giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế xã hội phù hợp để phát triển, nuôi dưỡng nguồn thu.
(5) Thứ năm, nhiều dự án trọng điểm chậm tiến độ do vướng mắc kéo dài trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Chỉ số giá vật liệu xây dựng biến động mạnh, có sự chênh lệch lớn so với công bố của Sở Xây dựng, chênh lệch giá nhân công giữa đầu tư công và đầu tư tư lớn, khiến nhiều nhà thầu thi công cầm chừng.
Hạ tầng logistics mang tính liên kết vùng và các trục giao thông đối ngoại kết nối Khu kinh tế Vũng Áng với nội địa và các khu vực cửa khẩu vẫn chưa đồng bộ.
(6) Thứ sáu, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách trong một số lĩnh vực đất đai, đầu tư, khoáng sản đang trong quá trình chuyển tiếp, hoàn thiện, tạo tâm lý e dè, lúng túng trong áp dụng.
Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực quản trị công nghiệp, kỹ thuật cao, logistics và kinh tế số chưa đáp ứng được yêu cầu của các dự án công nghệ mũi nhọn. Đây là rào cản lớn cản trở khả năng hấp thụ đầu tư công nghệ cao và mục tiêu xây dựng Khu thương mại tự do Vũng Áng.
(7) Thứ bảy, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh đã tạo động lực cho tăng trưởng, song đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường, suy giảm chất lượng nguồn nước, không khí và hệ sinh thái, đặc biệt tại các khu vực tập trung công nghiệp nặng và nhiệt điện. Bên cạnh đó, các thách thức mang tính trung và dài hạn như tốc độ già hóa dân số, tỷ lệ lao động phi chính thức còn ở mức cao và khoảng cách phát triển, mức sống giữa khu vực đô thị với nông thôn, miền núi vẫn còn hiện hữu và có nguy cơ gia tăng.

Đại biểu tham dự kỳ họp
- Nguyên nhân của khó khăn, hạn chế
Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất với các nguyên nhân khách quan và chủ quan đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phân tích, đánh giá. Ban cho rằng cần bổ sung, làm rõ hơn một số nguyên nhân mang tính nền tảng và lâu dài. Cụ thể, tư duy phát triển, năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách của một số sở, ngành, địa phương chưa theo kịp những biến động nhanh của thực tiễn và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường còn thiếu đồng bộ, phát sinh nhiều khâu trung gian, dẫn đến tình trạng ách tắc, chậm trễ, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án đầu tư và hiệu quả sử dụng nguồn lực phát triển.
Về Nhiệm vụ giải pháp 6 tháng cuối năm 2026
Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm trên 10%, Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện quyết liệt các nhóm giải pháp đã đề ra; quan tâm tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
- Theo dõi sát diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước, chủ động xây dựng, cập nhật các kịch bản tăng trưởng, kịp thời có giải pháp ứng phó với những biến động bất lợi có thể phát sinh. Bám sát sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, bảo đảm ổn định chuỗi cung ứng và sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; hỗ trợ mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao khả năng thích ứng trước các biến động từ bên ngoài.
- Chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng thực chất, tăng tỷ trọng ngành chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, kinh tế xanh - tuần hoàn. Tập trung hỗ trợ pháp lý và khuyến khích các doanh nghiệp nội địa nâng cấp công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI lớn trên địa bàn (Formosa, VinFast). Trong lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh khuyến nông, thu hút doanh nghiệp chế biến, phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Thực hiện các giải pháp quản lý thu theo phân cấp, chống thất thu nhất là các nguồn thu từ hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số và chuyển nhượng bất động sản. Rà soát, cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cần thiết để ưu tiên nguồn lực cho cải cách tiền lương, bảo đảm an sinh xã hội và các nhiệm vụ trọng tâm. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, phân cấp ngân sách phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công ngay từ những tháng tiếp theo; kịp thời tháo gỡ vướng mắc về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, nguồn cung vật liệu xây dựng và các điều kiện thi công. theo dõi sát diễn biến giá nhân công lao động tại các khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm để hạn chế tác động bất lợi đến tiến độ và chi phí thực hiện dự án.
Thực hiện điều chuyển kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, chậm giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân trong năm. Nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án trọng điểm của tỉnh; rà soát, hoàn thiện phương án phân bổ vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 bảo đảm tập trung, hiệu quả, đúng nguyên tắc, tiêu chí theo quy định.
- Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về phát triển các thành phần kinh tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực mới cho tăng trưởng. Khẩn trương rà soát, tháo gỡ các rào cản về tiếp cận đất đai, vốn, thủ tục hành chính và môi trường đầu tư kinh doanh; phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế địa phương. Nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và thu hút có chọn lọc nguồn vốn đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong tỉnh. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện Đề án Khu Thương mại tự do Vũng Áng, tạo nền tảng thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, logistics và các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao trong thời gian tới.
- 6. Phát triển đô thị theo hướng bền vững, đồng bộ với bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được điều chỉnh (Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh), tập trung đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch đô thị, quy hoạch phân khu, quy hoạch chuyên ngành và các quy hoạch có tính chất động lực, tạo không gian phát triển mới cho tỉnh.
- Tiếp tục khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở; đẩy mạnh cải cách hành chính thực chất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
- TỜ TRÌNH VÀ DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CÁC NỘI DUNG TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ - NGÂN SÁCH
Ban Kinh tế - Ngân sách đã tổ chức làm việc, đồng hành cùng với cơ quan soạn thảo trong quá trình xây dựng Nghị quyết và có ý kiến như sau:
Qua thẩm tra cho thấy các nội dung do Ủy ban nhân dân tỉnh trình kỳ họp đã có đầy đủ hồ sơ, thủ tục, các căn cứ pháp lý liên quan, có tính cần thiết, thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh; được cơ quan soạn thảo xây dựng công phu, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ sở, các tổ chức kinh tế - xã hội liên quan và đã được cơ quan tư pháp thẩm định.

Toàn cảnh kỳ họp
Ban thống nhất đối với 08 Tờ trình và dự thảo Nghị quyết, do sau khi làm việc và thẩm tra, các cơ quan soạn thảo đã có báo cáo tiếp thu, giải trình, hoàn thiện; bao gồm:
- Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương năm 2025;
- Nghị quyết Danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (đợt 2) năm 2026;
- Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 159/2025/NQ-HĐND ngày 29/10/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;
- Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị quyết số 132/2024/NQ-HĐND ngày 30/9/2024 của HĐND tỉnh quy định các tiêu chí để quyết định thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang đô thị và dự án khu dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;
- Nghị quyết bãi bỏ Nghị quyết số 181/NQ-HĐND ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực Công Thương trên địa bàn tỉnh.
- Nghị quyết quy định mức tối đa, mức tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Nghị quyết sửa đổi một số Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Nghị quyết quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang thực hiện 04 dự án, gồm: Dự án Đường từ xã Sơn Hồng ra biên giới, Dự án Khai thác và chế biến đá xây dựng tại thôn Hồng Phương, xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh (nay là tổ dân phố Hồng Sơn, phường Hoành Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), Dự án Khôi phục, nâng cấp tuyến đê biển Hội Thống, Dự án Nâng cấp đường huyện ĐH.63 (Sơn Bình - Kim Hoa), huyện Hương Sơn (cũ).
Đối với các Tờ trình và dự thảo Nghị quyết còn lại, Ban cơ bản thống nhất và kiến nghị tiếp thu, hoàn thiện một số nội dung sau:
- Nghị quyết quy định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách địa phương giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh
Ban Kinh tế - Ngân sách nhận thấy: việc mạnh dạn quy định phân cấp 40% nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung cho ngân sách cấp xã là phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tăng tính chủ động cho cơ sở. Hệ thống tính điểm dựa trên dân số, trình độ phát triển, diện tích tự nhiên và các tiêu chí bổ sung (vùng núi, biên giới, đô thị) đã tuân thủ đúng định hướng tại Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
(1). Với việc phân cấp quản lý 40% vốn về cấp xã, trong khi năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ cấp xã làm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, đề nghị quy định rõ trách nhiệm của Sở Tài chính, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan trong việc hướng dẫn, đào tạo, tập huấn và hỗ trợ chuyên môn cho cán bộ cấp xã để quản lý tốt nguồn vốn được phân cấp.
(2). Bổ sung, xây dựng các quy định, giải pháp kiểm soát việc quán triệt nguyên tắc bố trí vốn tập trung, không dàn trải, giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025 theo Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026- 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
- Nghị quyết phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định phân bổ, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm vốn ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh chi tiết theo dự án thành phần, danh mục và mức bố trí vốn thực hiện dự án, nhiệm vụ đầu tư công của từng chương trình mục tiêu quốc gia
Sau khi được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua, Ủy ban nhân dân tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc phân bổ, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm vốn ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh; đảm bảo quản lý, sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia đúng quy định. Trong đó, quan tâm đến công tác quản lý dự án tại cấp xã; việc tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng có quy mô nhỏ, tính chất kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của người dân; công tác đấu thầu, quản lý thi công xây dựng công trình, thanh toán và quyết toán dự án đặc thù có sự tham gia của cộng đồng. Kịp thời nắm bắt những khó khăn, bất cập trong thực tiễn triển khai ở cơ sở để kiến nghị, đề xuất phương án xử lý.
- Nghị quyết quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh và bố trí vốn đối ứng ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030
(1) Về định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh: khoản 1 Điều 6 dự thảo Nghị quyết đang quy định đồng thời nhiều nội dung về căn cứ phân bổ, thẩm quyền trình quyết định phân bổ, phân bổ vốn cho các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh và các xã, phường; trong khi khoản 2, khoản 3 tiếp tục quy định cụ thể về định mức phân bổ vốn cho từng nhóm đối tượng. Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát, chỉnh lý cách trình bày Điều 6 theo hướng gọn hơn, tránh trùng lặp, làm rõ thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong xây dựng, trình phương án phân bổ vốn để thuận lợi cho quá trình áp dụng.
(2). Về nguyên tắc bố trí vốn đối ứng ngân sách địa phương, tại khoản 1 Điều 7, đề nghị chỉnh sửa như sau: “Mức bố trí vốn đối ứng ngân sách địa phương: Trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách trung ương cho tỉnh Hà Tĩnh, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 8 Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg, Hội đồng nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định bố trí kinh phí đối ứng ngân sách địa phương đảm bảo phù hợp với khả năng ngân sách”.
(3). Về tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách cấp xã (Điều 8): dự thảo Nghị quyết quy định các tiêu chí và phương pháp tính tổng điểm của từng xã, phường làm căn cứ xác định tỷ lệ vốn đối ứng; tuy nhiên, chưa quy định rõ mối quan hệ giữa tổng điểm được xác định và tỷ lệ vốn đối ứng cụ thể của từng địa phương. Qua giải trình của cơ quan soạn thảo, tổng điểm của xã, phường sau khi tính toán theo quy định chính là tỷ lệ phần trăm (%) vốn đối ứng của ngân sách địa phương. Để bảo đảm rõ ràng, thống nhất trong quá trình áp dụng, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉnh sửa điểm a khoản 2 Điều 8 dự thảo Nghị quyết theo hướng: “Tổng điểm của từng xã, phường được xác định theo các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này là căn cứ xác định tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách cấp xã; tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách cấp xã bằng tổng số điểm được xác định theo công thức tại điểm b khoản này và tương ứng theo đơn vị phần trăm (%)”.
(4). Rà soát, thống nhất cách sử dụng các cụm từ “địa phương”, “cấp xã”, “xã, phường” trong toàn bộ dự thảo nghị quyết để tránh cách hiểu khác nhau khi áp dụng.
Lượt xem: 21