Đảm bảo cơ sở pháp lý cho sắp xếp thôn, tổ dân phố và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng
Sáng 19/6, tại Kỳ họp thứ 4 (Kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh Khóa XIX, Ban Pháp chế được phân công thẩm tra 03 Tờ trình, dự thảo Nghị quyết trên lĩnh vực kinh tế và ngân sách. Thay mặt Ban Pháp chế HĐND tỉnh, đồng chí Nguyễn Thị Nhuần - Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh đã báo cáo kết quả thẩm tra như sau

Đồng chí: Nguyễn Duy Lâm - Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh; Phan Thiên Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy
NỘI DUNG THỨ NHẤT: Tờ trình và dự thảo Nghị quyết quy định mức phụ cấp, việc kiêm nhiệm và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; số lượng, chức danh, mức hỗ trợ và mức phụ cấp kiêm nhiệm đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
- Về sự cần thiết và thẩm quyền ban hành
1.1. Sự cần thiết
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Nghị định đã thay đổi căn bản cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, đồng thời bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố và người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố đang được thực hiện theo Nghị quyết số 111/2023/NQ-HĐND ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Tuy nhiên, một số nội dung của Nghị quyết này được xây dựng trên cơ sở Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, trong đó có các quy định về người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Sau khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp và chấm dứt hoạt động của đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã từ ngày 01 tháng 6 năm 2026, nhiều nội dung của Nghị quyết số 111/2023/NQ-HĐND không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và yêu cầu thực tiễn.
Do đó, việc ban hành Nghị quyết mới nhằm cụ thể hóa các quy định của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ, đồng thời thay thế các nội dung không còn phù hợp của Nghị quyết số 111/2023/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh là cần thiết, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh.

Đại biểu Nguyễn Thăng Long - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Bắc Hồng Lĩnh phát biểu góp ý các nội dung dự thảo.
1.2. Thẩm quyền ban hành
Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định cụ thể mức phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm; số lượng, chức danh và mức hỗ trợ đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
Vì vậy, việc Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, ban hành Nghị quyết là đúng thẩm quyền.
- Trình tự, thủ tục xây dựng Nghị quyết
Hồ sơ dự thảo Nghị quyết được cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị đầy đủ theo quy định; đã tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan; được Sở Tư pháp thẩm định tại Báo cáo số 291/BC-STP ngày 14 tháng 6 năm 2026. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã có Văn bản số 421/HĐND ngày 08 tháng 6 năm 2026 thống nhất áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành Nghị quyết.
- Nội dung
Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với Tờ trình, dự thảo Nghị quyết do Ủy ban nhân dân tỉnh trình với các nội dung cơ bản như sau:
3.1. Về mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố:
Việc quy định mức phụ cấp theo 02 loại thôn, tổ dân phố là phù hợp với quy mô dân cư, khối lượng công việc và đặc thù từng địa bàn. Theo dự thảo Nghị quyết, đối với thôn, tổ dân phố loại 1, mức phụ cấp của chức danh Bí thư Chi bộ và Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố là 3,5 lần mức lương cơ sở/tháng; Trưởng Ban công tác Mặt trận là 2,0 lần mức lương cơ sở/tháng. Đối với thôn, tổ dân phố loại 2, mức phụ cấp tương ứng là 2,9 lần và 1,7 lần mức lương cơ sở/tháng. Các mức phụ cấp này bảo đảm tương quan hợp lý giữa các chức danh, phù hợp với tính chất, trách nhiệm và khối lượng công việc được giao; đồng thời góp phần động viên đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố yên tâm công tác. Việc ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm mức khoán tương đương hệ số 1,0 lần mức lương cơ sở/thôn, tổ dân phố là phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.
3.2. Về mức phụ cấp, mức hỗ trợ đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật chuyên ngành:
Ban Pháp chế thống nhất với việc tiếp tục quy định chế độ đối với chức danh Thôn đội trưởng và nhân viên y tế thôn, tổ dân phố. Mức phụ cấp đối với Thôn đội trưởng được quy định bằng 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng đối với thôn, tổ dân phố loại 1 và 0,55 lần mức lương cơ sở/tháng đối với thôn, tổ dân phố còn lại. Đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố, mức hỗ trợ là 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng tại các địa bàn có quy mô dân cư lớn hoặc thuộc vùng khó khăn và 0,50 lần mức lương cơ sở/tháng tại các địa bàn còn lại. Các mức hỗ trợ này phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và bảo đảm tương quan với các chức danh khác đang hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
3.3. Về các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố:
Việc duy trì 05 chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố như hiện hành và điều chỉnh mức hỗ trợ theo hướng tăng thêm 0,3 lần mức lương cơ sở/chức danh. Theo đó, mức hỗ trợ đối với thôn, tổ dân phố loại 1 là 0,8 lần mức lương cơ sở/tháng/chức danh và đối với thôn, tổ dân phố loại 2 là 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng/chức danh. Sự điều chỉnh này phù hợp với quy mô, khối lượng công việc của thôn, tổ dân phố sau sắp xếp, đồng thời góp phần động viên đội ngũ cán bộ đoàn thể ở thôn, tổ dân phố tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Hoạch - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Kỳ Văn góp ý các nội dung dự thảo.
Điều chỉnh chức danh người trực tiếp tham gia hoạt động công tác đảng thành chức danh tham gia hoạt động hỗ trợ Bí thư Chi bộ và Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố; đồng thời bổ sung chức danh tham gia hoạt động ở Tổ liên gia. Theo dự thảo Nghị quyết, mức hỗ trợ đối với các chức danh này là 1,0 lần mức lương cơ sở/tháng đối với thôn, tổ dân phố loại 1 và 0,9 lần mức lương cơ sở/tháng đối với thôn, tổ dân phố còn lại. Quy định này phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần tăng cường lực lượng hỗ trợ triển khai nhiệm vụ ở khu dân cư sau sắp xếp đơn vị thôn, tổ dân phố.
3.4. Về số lượng người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố:
Ban Pháp chế thống nhất quy định số lượng người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố là không quá 12 người/thôn, tổ dân phố, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy mô thôn, tổ dân phố sau sắp xếp.
Việc không quy định cụ thể số lượng người tham gia hoạt động ở Tổ liên gia trong Nghị quyết là phù hợp vì việc hỗ trợ được thực hiện theo cơ chế khoán theo từng thôn, tổ dân phố; địa phương căn cứ tình hình thực tế để bố trí số lượng phù hợp, bảo đảm hiệu quả hoạt động và sử dụng kinh phí đúng quy định.
3.5. Về chế độ kiêm nhiệm
Dự thảo quy định cho phép người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được kiêm nhiệm chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố; chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố được kiêm nhiệm chức danh tham gia hoạt động khác ở thôn, tổ dân phố và được hưởng 100% mức hỗ trợ của chức danh kiêm nhiệm. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong quá trình sắp xếp, bố trí nhân sự, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn nhân lực ở cơ sở.
NỘI DUNG THỨ 2: Tờ trình và dự thảo Nghị quyết thông qua chủ trương Đề án “Nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030”
- Về sự cần thiết, thẩm quyền ban hành
Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng diễn biến ngày càng phức tạp, cực đoan, bất thường, gây thiệt hại lớn về người, tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của Nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực tiễn triển khai nhiệm vụ phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn thời gian qua cho thấy vẫn còn một số hạn chế như: nhận thức, kiến thức và kỹ năng phòng, chống thiên tai của một bộ phận người dân chưa đáp ứng yêu cầu; công tác ứng phó, khắc phục hậu quả tại một số địa bàn còn bị động, chưa kịp thời; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng có lúc, có nơi chưa thật sự đồng bộ, hiệu quả; công tác huấn luyện, tập huấn, diễn tập của lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn còn thiếu, chưa đồng bộ.

Đại biểu Hà Văn Đàn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hương Phố góp ý các nội dung dự thảo.
Hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự ở địa phương ngày càng cao. Vì vậy, việc Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết thông qua Đề án “Nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030” là cần thiết và đúng thẩm quyền, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
- Về dự thảo Nghị quyết
Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh nhận thấy: hồ sơ Nghị quyết được xây dựng theo đúng trình tự quy định, có đầy đủ Tờ trình, dự thảo Nghị quyết và Đề án chi tiết. Nội dung đã được lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan; Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức làm việc với cơ quan soạn thảo, các ý kiến góp ý đã được tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện. Vì vậy, Ban Pháp chế thống nhất với Tờ trình, dự thảo Nghị quyết và Đề án do Ủy ban nhân dân tỉnh trình với các nội dung cơ bản như sau:
- Đề án quy định phạm vi điều chỉnh đối với toàn bộ cơ quan, đơn vị và địa phương có liên quan trên địa bàn tỉnh; nội dung trọng tâm gồm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền; hoàn thiện cơ chế chỉ huy, điều hành; tổ chức lực lượng cơ động cấp tỉnh, lực lượng cơ động tại Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực và tổ, đội xung kích tại 100% xã, phường. Tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, tập huấn và diễn tập hằng năm; tổ chức diễn tập cấp tỉnh, cấp khu vực và cấp xã theo chu kỳ, bảo đảm lực lượng nắm chắc phương án, chủ động xử lý tình huống, vận dụng tốt phương châm “4 tại chỗ”.
- Đề án xác định mục tiêu xây dựng lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ phòng thủ dân sự vững mạnh, có khả năng phối hợp, hiệp đồng và xử lý hiệu quả các tình huống thiên tai, sự cố trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp; đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức, huấn luyện, diễn tập, chỉ huy và ứng phó cho lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và dự bị động viên; từng bước theo lộ trình trang bị đầy đủ phương tiện, cơ sở vật chất theo danh mục của Trung ương.
- Đề án quy định rõ cơ chế điều động lực lượng theo phân cấp khi xảy ra sự cố, thiên tai hoặc thảm họa; tăng cường trực sẵn sàng chiến đấu, trực cứu hộ cứu nạn 24/24; nâng cao năng lực nắm tình hình, cảnh báo, dự báo và phối hợp giữa các lực lượng. Về bảo đảm, Đề án xác định nhu cầu trang thiết bị, phương tiện và quy định trách nhiệm mua sắm, bố trí kinh phí trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách hằng năm.

Đại biểu Nguyễn Hoài Sơn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Sông Trí góp ý các nội dung dự thảo.
Lộ trình thực hiện giai đoạn 2026 - 2030 được xây dựng theo từng năm, trong đó các năm 2026 - 2027 tập trung vào huấn luyện 100% lực lượng, tổ chức diễn tập tại một số địa phương và trang bị bước đầu; các năm tiếp theo tiếp tục diễn tập quy mô lớn, bổ sung trang thiết bị và hoàn thiện khả năng ứng phó. Trách nhiệm triển khai được phân công rõ ràng, trong đó Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh giữ vai trò chủ trì; các đơn vị liên quan phối hợp theo chức năng, bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn tỉnh.
Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức lực lượng; xây dựng kế hoạch; tổ chức huấn luyện, diễn tập; nắm bắt tình hình, trực ứng phó; điều động lực lượng theo phân cấp và rà soát, đề xuất nhu cầu trang thiết bị, phương tiện phục vụ nhiệm vụ phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo đúng nội dung Đề án.
NỘI DUNG THỨ 3: Tờ trình và dự thảo nghị quyết thông qua Đề án “Tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân tự vệ
tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030
- Về sự cần thiết, thẩm quyền ban hành
Thực hiện Nghị quyết số 271/2021/NQ-HĐND ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh, lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh được tổ chức tương đối chặt chẽ, chất lượng từng bước được nâng lên, góp phần tích cực trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế như công tác quản lý lực lượng ở một số địa phương chưa chặt chẽ; lực lượng dân quân thường trực hầu hết chưa được thành lập; đội ngũ cán bộ Ban Chỉ huy quân sự cấp xã chưa đồng đều; cơ sở vật chất, trụ sở làm việc còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đại biểu tham dự kỳ họp
Đặc biệt, khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, nhiệm vụ của Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện được chuyển giao về cấp xã với biên chế chỉ 08-10 người, trong khi yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở ngày càng nhiều. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố lực lượng dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng dân quân thường trực và tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện bảo đảm hoạt động để đáp ứng yêu cầu quốc phòng, quân sự, phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn trong tình hình mới. Mặt khác, Nghị quyết số 271/2021/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh đã hết hiệu lực thi hành từ năm 2025.
Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết thông qua Đề án “Tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân tự vệ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030” là cần thiết và là đúng thẩm quyền, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
- Về nội dung Tờ trình, dự thảo Nghị quyết
Ban Pháp chế nhận thấy, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Quốc phòng và Quân khu 4, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã chủ trì xây dựng Đề án “Tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030”; tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan, tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh theo đúng quy định. Vì vậy, Ban Pháp chế thống nhất với nội dung dự thảo Nghị quyết và Đề án kèm theo, cụ thể:
- Đề án xác định mục tiêu xây dựng lực lượng dân quân tự vệ tỉnh Hà Tĩnh theo hướng vững mạnh, rộng khắp, phù hợp với chính quyền địa phương 02 cấp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và phòng thủ dân sự trong tình hình mới. Phấn đấu đến năm 2030, lực lượng dân quân tự vệ đạt từ 1,7% đến 2,0% dân số; tỷ lệ đảng viên trong lực lượng dân quân tự vệ đạt từ 30% trở lên; 100% cán bộ dân quân tự vệ là đảng viên; 100% Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã được đào tạo cao cấp lý luận chính trị và 100% Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có trụ sở làm việc riêng.

- Về tổ chức lực lượng, Đề án quy định tổ chức, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo đúng quy định của Luật Dân quân tự vệ số 48/2019/QH14, Văn bản hợp nhất số 141/VBHN-VPQH ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Văn phòng Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thi hành; bảo đảm số lượng hợp lý, chất lượng ngày càng cao, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương. Đặc biệt, Đề án xác định năm 2026 hoàn thành việc thành lập 01 tiểu đội dân quân thường trực tại 100% xã, phường trong toàn tỉnh; đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng chính trị, trình độ, năng lực của cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ.
- Về công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, huấn luyện và diễn tập, Đề án quy định cụ thể đối tượng, nội dung, chương trình, thời gian thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng; phấn đấu quân số tham gia huấn luyện đạt trên 98%, kết quả khá, giỏi đạt từ 80% trở lên; duy trì nghiêm chế độ giáo dục chính trị, pháp luật, hội thi, hội thao, diễn tập tác chiến trong khu vực phòng thủ, diễn tập phòng thủ dân sự và các hoạt động huấn luyện theo phân cấp.
- Về hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, Đề án xác định lực lượng dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Đại biểu biểu quyết thông qua 3 nghị quyết quan trọng về tổ chức cơ sở và quốc phòng địa phương
- Về bảo đảm chế độ, chính sách và cơ sở vật chất, Đề án xác định tiếp tục thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với lực lượng dân quân tự vệ theo quy định hiện hành; từng bước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ huấn luyện, hoạt động và xây dựng trụ sở làm việc của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Đề án phù hợp với quy định của pháp luật, sát với yêu cầu thực tiễn công tác quốc phòng, quân sự địa phương và khả năng tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh.
Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các địa phương rà soát, ưu tiên lựa chọn người hoạt động không chuyên trách cấp xã đã nghỉ công tác và người hoạt động ở thôn, tổ dân phố tham gia lực lượng dân quân tự vệ khi đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định nhằm phát huy hiệu quả nguồn nhân lực có kinh nghiệm thực tiễn, am hiểu địa bàn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ ở cơ sở.
Lượt xem: 4