Đoàn ĐBQH Hà Tĩnh đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện chính sách về dầu khí, bồi thường nhà nước và đổi mới sáng tạo
Chiều 04/8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại tổ về 02 dự án luật: Luật Dầu khí (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Lai Châu và thành phố Cần thơ đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sát thực tiễn, góp phần hoàn thiện các dự thảo luật, nghị quyết
![]() |
|
Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia thảo luận tổ chiều 04/8
|
Tham dự buổi thảo luận có các đồng chí: Nguyễn Duy Ngọc - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương (Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ); Phạm Gia Túc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh). Đồng chí Đỗ Thanh Bình - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ, Trưởng đoàn ĐBQH TP Cần Thơ chủ trì phiên thảo luận. Đồng chí Nguyễn Duy Lâm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh cùng các ĐBQH trong tổ thảo luận số 09.
Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động dầu khí
Thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), các đại biểu khẳng định việc sửa đổi Luật là cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý hoạt động dầu khí, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế kinh tế biển và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới.
Các đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO₂; phát triển các công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí; hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền và giao quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cũng như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam theo hướng bảo đảm rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đồng thời, hoàn thiện các quy định về cơ chế ưu đãi đầu tư, hợp đồng dầu khí, xử lý chi phí và các chính sách khai thác tận thu nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong tình hình mới.
Tham gia thảo luận về dự án luật này, các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dầu khí theo hướng quy định rõ căn cứ áp dụng, trình tự, thủ tục thực hiện, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như việc xử lý tài sản, chi phí, dữ liệu và các nghĩa vụ về an toàn, môi trường, thu dọn công trình. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về nguyên tắc xác định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp, làm rõ pháp luật áp dụng để hạn chế nguy cơ phát sinh xung đột pháp lý, tạo cơ sở cho các bên chủ động quản trị rủi ro, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và nâng cao hiệu quả thực hiện các hợp đồng dầu khí.
![]() |
|
Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, đại biểu Quốc hội Đoàn Hà Tĩnh, nhấn mạnh ngành dầu khí và năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà còn gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Đồng chí cho biết, quá trình triển khai Luật Dầu khí năm 2022 đã bộc lộ một số bất cập trong bối cảnh xu hướng chuyển dịch năng lượng, sự phát triển của các dự án điện gió ngoài khơi và những biến động phức tạp của thị trường năng lượng thế giới. Vì vậy, việc sửa đổi luật là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế, tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư, phát triển chuỗi giá trị năng lượng và xây dựng hành lang pháp lý đối với hoạt động thu giữ, lưu trữ CO₂; đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
|
Bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong giải quyết trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các đại biểu cho rằng cần xác định rõ phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, căn cứ xác định thiệt hại và cơ chế bồi thường đối với các tổn thất phát sinh, bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nghiên cứu, rà soát các trường hợp được miễn trách nhiệm hoàn trả; chuẩn hóa tiêu chí và cơ chế xác định lỗi trên nguyên tắc đánh giá, hậu kiểm độc lập nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng trong quá trình xem xét trách nhiệm.
Ngoài ra, các đại biểu cũng đề nghị bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát và công khai kết quả giải quyết bồi thường nhằm nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường và người thực hiện nhiệm vụ. Bổ sung các quy định bao quát đầy đủ trách nhiệm bồi thường đối với các hành vi hành chính được thực hiện thông qua hệ thống tự động hóa hoặc thiết bị công nghệ do cơ quan nhà nước quản lý, vận hành.
![]() |
|
ĐBQH Bùi Thị Quỳnh Thơ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, làm rõ thêm các loại hình kiểm toán trong hoạt động dầu khí
|
Thảo luận về dự án Luật, đại biểu Đoàn Hà Tĩnh đề nghị xác định rõ phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, căn cứ xác định thiệt hại, cơ chế bồi thường đối với các tổn thất phát sinh và nguyên tắc xử lý trong trường hợp có sự khác nhau giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với các luật chuyên ngành. Bổ sung thành phần hồ sơ chứng minh chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường để tạo thuận lợi cho việc xác minh, thụ lý hồ sơ; quy định cụ thể hơn các tiêu chí lựa chọn người giải quyết bồi thường nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật. Đồng thời, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu quy định về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bảo đảm tính khách quan, độc lập, nhất là đối với những vụ việc phức tạp, nhạy cảm.
Tháo gỡ điểm nghẽn, khuyến khích cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung
Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các đại biểu khẳng định sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án; đồng thời khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo, bảo vệ những cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng, tiêu cực.
![]() |
|
ĐBQH Lê Thành Đông, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Tĩnh tham gia thảo luận tại tổ
|
Các đại biểu đề nghị rà soát, làm rõ phạm vi điều chỉnh và nội hàm của từng lĩnh vực để bảo đảm tính minh bạch, tránh chồng chéo với các quy định của pháp luật chuyên ngành. Cần quán triệt đầy đủ nguyên tắc xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính và dân sự; trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân; đồng thời tách bạch giữa việc xem xét, xử lý trách nhiệm với việc tháo gỡ khó khăn, khắc phục hậu quả đối với các dự án, công trình.
Thảo luận về dự thảo Nghị quyết, đại biểu Lê Thành Đông, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cho rằng phạm vi điều chỉnh của dự thảo vẫn còn tương đối hẹp so với quy định pháp luật chuyên ngành và yêu cầu thực tiễn; theo đó, tại khoản 3 Điều 4 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 quy định hoạt động khoa học, công nghệ bao gồm 9 nhóm; riêng với chuyển đổi số thì theo Điều 4, Luật Chuyển đổi số ban hành cuối năm 2025 có đến 12 nhóm hoạt động; trong khi dự thảo mới tập trung vào nhóm hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đại biểu, đây là hoạt động có quá trình xuyên suốt, bao gồm nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá và triển khai trong thực tiễn; mặt khác, nhiều công nghệ, đặc biệt là công nghệ lõi Việt Nam phải trực tiếp nghiên cứu để có sản phẩm ứng dụng. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục quan tâm rà soát, bảo đảm với tình hình thực tiễn và thống nhất với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển đổi số và các quy định có liên quan; đồng thời, nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng bao quát đầy đủ các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Lượt xem: 4



