NHỚ TẾT ĐỘC LẬP XƯA
Có thể nói trong tâm thức của những người lớn lên từ rơm rạ miền Trung những năm bảy mươi của thế kỷ trước, ký ức đón chào ngày Quốc khánh 02/9 luôn lấp lánh, thiêng liêng, rạo rực. Và với riêng tôi, nó là chứa cả một trời hoài niệm.
Hồi đó mỗi năm trẻ con chúng tôi chỉ có chực chờ ba ngày Tết: Tết Nguyên Đán, Tết Độc lập và Tết Trung thu. Cách Quốc khánh khoảng vài tuần cha tôi đã trịnh trọng tuyên bố với mấy đứa con: “Chuẩn bị đón Tết Độc lập, các cô cậu nhớ chăm ngoan để có phần thưởng nhé”. Thế là chúng tôi bắt đầu đếm ngược thời gian từng ngày, từng giờ với bao mơ mộng.
![]() |
Cuối tháng Tám, không khí chuẩn bị Tết Độc lập đã rộn ràng từng nẻo xóm, đường thôn và từng gia đình với những băng cờ, khẩu hiệu. Trước mấy ngày, cha tôi còn chặt một cây tre cao, thẳng dựng trước sân để treo cờ Tổ quốc. Nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió dưới trời thu xanh ngắt, một cảm xúc rạo rực bỗng dâng trào. Lá cờ ấy khẳng định sự khai sinh nền Độc lập của nước Việt sau gần 100 năm đô hộ của thực dân. Sắc đỏ lấp lánh dưới nắng vàng đã xua tan vẻ trầm mặc của xóm nghèo, vẽ nên một bức tranh thanh bình, thơ mộng. Còn mẹ tôi thì lo việc chuẩn bị bữa cơm đón Tết Độc lập và mâm cỗ giỗ Bác Hồ. Những năm bao cấp, thiếu thốn đủ bề, lo được một bữa cơm tươm tất, một mâm cỗ là cả một vấn đề. Tôi nhớ mẹ tôi đã phải cùng bà con lối xóm “chung đụng” mổ một con lợn chia thịt để đón Tết Độc lập. Nếp, đậu thì đã chuẩn bị từ nhiều tháng trước. Riêng đám trẻ con chúng tôi thì ngày ngày háo hức chuyện được mặc áo mới, được ăn cỗ và đặc biệt là được lên thị trấn chơi Tết. Ở quê xưa, thị trấn là điểm đến vô cùng hấp dẫn của bọn trẻ con chúng tôi.
Sáng ngày mùng 2 tháng 9, khi trời còn mờ sương, cả làng tôi đã đồng loạt đỏ đèn. Tiếng gà gáy râm ran hòa cùng tiếng người í ới gọi nhau chuẩn bị đi chơi Tết Độc lập. Trong nhà tôi, bàn thờ tổ tiên đã được lau dọn sạch sẽ, hương trầm tỏa bay nghi ngút. Mẹ tôi tất bật dưới bếp để sửa soạn mâm cơm giỗ Bác Hồ. Kể từ mùa thu năm 1969 khi nghe tin Bác mất, người dân quê tôi đã lập bàn thờ tưởng nhớ Người và cứ đến dịp Quốc khánh, bà con lại bày mâm cơm giỗ Bác. Đứng trước bàn thờ trang nghiêm có đặt di ảnh Bác Hồ, cha tôi thành kính khấn nguyện tổ tiên và nhắc nhở anh em chúng tôi về nguồn cội, về công ơn trời biển của Bác Hồ cùng các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh xương máu để chúng tôi có được cuộc sống độc lập, tự do hôm nay.
Mấy đứa trẻ chúng tôi chỉ chờ ăn sáng xong là đi chơi Tết Độc lập. Tôi và em gái diện đồ mới rồi bưng rổ trái cây trong vườn mẹ hái từ hôm trước thủng thẳng đi “xe hăng cải” lên thị trấn. Bọn trẻ quê tôi tếu táo gọi đi bộ là đi “xe hăng cải”. “Hăng cải” là từ nói lái của hai cẳng, mà “cẳng”, tiếng Nghệ có nghĩa là chân. “Hăng cải’ là hai cẳng, hai cẳng là hai chân, đi “xe hăng cải” là đi bộ. Thời ấy trẻ con ở quê đi bộ bằng chân trần, dép dày là cả một chuyện xa xỉ. Nhà cách thị trấn 4km đi đường tắt nên cũng không có gì ghê gớm so với đi học, đi chăn bò hằng ngày. Nhân dịp năm học mới và Quốc khánh 02/9, dù thiếu thốn đủ đường nhưng bố mẹ tôi năm nào cũng may cho anh em chúng tôi bộ đồ mới, tuy vậy tiền để mua quà đi chơi Tết Độc lập này thì chẳng có mà cho. Thế là anh em tôi nghĩ cách kiếm tiền mua quà bằng việc mang trái cây vườn nhà đi bán. Vườn nhà tôi rộng trồng đủ thị, hồng, ổi, bưởi và rất nhiều mía. Tôi nhớ những quả thị chín vàng thơm ngây ngất hít hà mãi không chán. Nhớ những trái hồng đỏ lựng như má trẻ con. Nhớ những quả na mở mắt nhìn ngồ ngộ. Nhớ những khẩu mía ngọt lừ. Một số bạn nhỏ như chúng tôi đi chơi Tết Độc lập được bố mẹ cho tiền đã mua ủng hộ anh em tôi. Tuy vậy cũng có năm chẳng ai mua cả, thế là anh em tôi “xơi” luôn như là đã mua quà.
So với ngày thường, mới đầu sáng 2/9 mà thị trấn đã đông người đi lại. Đủ các thành phần nam, phụ, lão ấu và có thể nói đông nhất là đám trẻ con chúng tôi. Có những người từ các nơi xa như Mỹ Duệ, Lạc Xuyên, Vân Tán phải dậy đi từ lúc 3 giờ sáng. Đa số mọi người đi bộ, lác đác mới có vài ba người đi xe đạp. Người đi bộ từng tốp năm, tốp bảy vừa đi vừa trò chuyện rôm rả. Thi thoảng lại gặp một bác bán hàng rong với những mặt hàng đơn điệu như bóng bay, trống bỏi, cờ giấy và bỏng ngô. Bán được hoa quả, anh em tôi thường mua cái trống bỏi, lá cờ giấy để vẫy, để xoay kêu “tung tung” cho vui mắt, vui tai. Còn thứ quà mà anh em tôi khoái nhất vẫn là những chiếc bánh ngọt bán ở cửa hàng giải khát. Thời ấy loại bánh đó còn làm rất thô nhưng vị ngọt của đường sữa, vị thơm của bột mỳ vẫn theo tôi suốt một đời. Không hiểu sao giờ ăn đủ các loại bánh cao cấp nhưng tôi vẫn cảm thấy chẳng có loại nào ngon bằng chiếc bánh ngọt ngày đó.
Thị trấn Cẩm Xuyên những năm sau chiến tranh gần như chẳng có gì ngoài hiệu sách, cửa hàng dược, cửa hàng công nghệ phẩm và cửa hàng giải khát. Đây là những điểm thu hút đông người. Nhưng đông nhất là ven bờ sông Hội, nơi tổ chức thi đua thuyền và các trò chơi dân gian như đi cầu Kiều, ném vòng cổ chai, bịt mắt bắt vịt... Người người len chân chật kín cả bờ sông, tiếng kèn trống, xô chậu, tiếng hò reo vang dậy cả một vùng.
Chỉ đi bộ, trò chuyện, nhìn ngắm từ sáng đến trưa mà đã thấy sướng vui, năm nào cũng chờ đợi và đi không biết chán. Nhiều bạn trẻ ngày nay sẽ rất khó tưởng tượng được cái thời xa vắng ấy, để biết trân quý hơn cuộc sống muôn màu hôm nay.
Nhiều thập kỷ đã qua, tôi đã đi qua bao thăng trầm của cuộc đời, đã đặt chân đến nhiều vùng đất mới và đã chứng kiến biết bao mùa Tết Độc lập hoành tráng, rực rỡ pháo hoa. Thế nhưng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên ngọn tre cao vút, mùi hương trầm, mùi khói bếp, mùi hoa quả, mùi thịt nồi kho của mẹ và tiếng hò reo náo nức bên dòng Hội những năm bảy mươi ấy vẫn mãi là một ký ức trong trẻo, thiêng liêng nhất. Những ngày tháng đó tuy gian khó về vật chất nhưng tinh thần lại trong veo như bầu trời thu đã là điểm tựa tinh thần, là nguồn cội yêu thương nâng bước chân tôi trên mọi nẻo đường đời./.
Lượt xem: 20
