TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ, VĂN NGHỆ
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, một nhà cách mạng lỗi lạc, mà còn là một nhà tư tưởng, một danh nhân văn hóa kiệt xuất. Người đã đặt nền móng lý luận vững chắc, kiến tạo nên nền văn hoá, văn nghệ cách mạng Việt Nam hiện đại. Điểm đặc sắc và có giá trị trường tồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn nghệ chính là sự thống nhất biện chứng giữa tâm hồn của một nghệ sĩ lớn và bản lĩnh kiên định của một người chiến sĩ cộng sản. Từ những trải nghiệm thực tiễn phong phú, người đã đúc kết nên một hệ thống quan điểm toàn diện, định hướng chiến lược sâu sắc, xem văn hoá, văn nghệ là một mặt trận trọng yếu, định danh người nghệ sĩ là chiến sĩ và khẳng định văn nghệ sỹ phải bám rễ sâu bền vào cội nguồn dân tộc, nhân dân.
![]() |
Thống nhất biện chứng giữa “người chiến sĩ” và “người nghệ sĩ”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật mang tính thuyết phục cao và có sức sống mãnh liệt bởi nó không xuất phát từ những giáo điều sách vở mà bắt nguồn từ chính tư chất nghệ sĩ và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của người. Sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa xứ Nghệ, Người sớm thấm đẫm những giá trị truyền thống. Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, Người đã gác lại những thú vui tao nhã để dấn thân vào con đường cứu nước. Trong bài Khai quyển của tập Nhật ký trong tù, Người tự bạch: "Ngâm thơ ta vốn không ham/Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?". Tuy tự nhận "không ham" nhưng chính hoàn cảnh khắc nghiệt của lao tù đã khơi dậy mạnh mẽ tâm hồn thi sĩ hòa quyện cùng ý chí thép của người cộng sản.
Đối với Hồ Chí Minh, nghệ thuật không thể là thứ nghệ thuật vị nghệ thuật, tách rời thời cuộc. Tính "chiến sĩ" trong người "nghệ sĩ" Hồ Chí Minh đòi hỏi văn chương, nghệ thuật phải mang tính chiến đấu, phải là công cụ phục vụ đắc lực cho cách mạng. Người đã khẳng định một tuyên ngôn đanh thép về chức năng của văn chương cách mạng: "Nay ở trong thơ nên có thép/Nhà thơ cũng phải biết xung phong" (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi). Với nhãn quan chính trị sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức rõ sức mạnh to lớn của văn học nghệ thuật trong việc giác ngộ quần chúng. Ngay từ những năm tháng bôn ba ở Pháp, ngòi bút của Người trên tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) hay trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã là những vũ khí vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân. Quan điểm này sau đó được Người khái quát thành nguyên tắc lý luận và căn dặn giới cầm bút: "Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà"[1].
Văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa, văn học nghệ thuật được đặt ngang hàng với các trụ cột khác của quốc gia. Người chỉ rõ: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá"[2]. Mối quan hệ giữa văn hóa, nghệ thuật với kinh tế và chính trị là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, Người khẳng định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị"[3]. Chính từ tư duy chiến lược này, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định đề kinh điển, trở thành kim chỉ nam cho nền văn nghệ cách mạng Việt Nam: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"[4].
Việc định danh "mặt trận" và "chiến sĩ" đã làm thay đổi hoàn toàn vị thế, vai trò và trách nhiệm của người cầm bút, người sáng tạo nghệ thuật. Trên "mặt trận" không có tiếng súng ấy, cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, ý thức hệ diễn ra vô cùng cam go và quyết liệt nhằm thanh lọc những tư tưởng phản động, nô dịch, đồng thời xây dựng những giá trị chân - thiện - mỹ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh"[5]. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang nhưng cực kỳ gian khổ đó, người nghệ sĩ không thể đứng chông chênh hay mơ hồ về lý tưởng. Đạo đức và lập trường của người nghệ sĩ cách mạng được Người quy định rõ: "Chiến sĩ nghệ thuật cần phải có lập trường vững, tư tưởng đúng. Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết"[6].
Phải chân thật, đại chúng và hiện đại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật là sự kết tinh sâu sắc giữa truyền thống văn hóa dân tộc và trí tuệ của thời đại. Người chỉ ra quy luật phản ánh của văn nghệ đối với hạ tầng xã hội: "Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy..." [7]. Từ đó, Người vạch rõ mối quan hệ khăng khít giữa vận mệnh quốc gia và quyền tự do sáng tác: "Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng"[8]. Theo quan điểm của Người, một nền văn nghệ dân tộc, trước hết phải là một nền văn nghệ bắt nguồn từ thực tiễn lao động và phục vụ đại chúng. Người răn dạy giới văn nghệ sĩ rằng gốc rễ của văn hóa, nghệ thuật "phải gắn liền với lao động, sản xuất, văn hóa xa đời sống, xa lao động là văn hoá suông"[9]. Nghệ thuật chân chính phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, hướng con người tới lẽ sống tự chủ, độc lập. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946, Người từng yêu cầu: "Văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng... làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do"[10]. Bên cạnh đó, tầm nhìn vĩ đại của Hồ Chí Minh về tính dân tộc trong nghệ thuật còn thể hiện ở quan điểm xử lý mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn truyền thống và đổi mới, cách tân. Người luôn trân trọng di sản văn hóa cổ truyền nhưng kiên quyết chống lại lối sao chép lai căng, đánh mất bản sắc. Nhận xét về nghệ thuật tuồng truyền thống, Người từng khen ngợi và ân cần nhắc nhở bằng một triết lý vô cùng thâm thúy, dễ hiểu: "Tuồng là tốt đấy, nhưng cần phải cải tiến... nhưng chớ gieo vừng ra ngô" [11]. Lời căn dặn "chớ gieo vừng ra ngô" chính là nguyên tắc vàng cho mọi sự sáng tạo và hội nhập, sự cách tân. Hiện đại hóa văn học nghệ thuật phải dựa trên nền tảng bảo vệ sự tinh tế, thuần khiết của cội nguồn dân tộc, không được làm biến dạng hay phá vỡ bản sắc cốt lõi của văn hóa Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn nghệ là một cống hiến lý luận xuất sắc, một cương lĩnh soi đường cho sự hình thành và phát triển của nền văn hoá, văn nghệ cách mạng Việt Nam. Sự kết hợp hoàn hảo giữa nhãn quan của một nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất và trái tim nhạy cảm của một nghệ sĩ lớn đã giúp Người giải quyết thành công mối quan hệ giữa chính trị và nghệ thuật, giữa dân tộc và nhân loại, giữa truyền thống và hiện đại. Ngày nay, trong công cuộc hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những di huấn của Người vẫn giữ nguyên giá trị và tính định hướng chiến lược. Để văn học nghệ thuật thực sự trở thành "sức mạnh nội sinh", đội ngũ văn nghệ sĩ hôm nay phải tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, bám sát thực tiễn đất nước, mài sắc ngòi bút như một vũ khí chiến đấu vì chân-thiện-mỹ, sáng tạo nên những tác phẩm mang tầm vóc thời đại, góp phần chấn hưng văn hóa nước nhà, giữ gìn bản sắc dân tộc, mãi mãi "không gieo vừng ra ngô" trên chặng đường phát triển mới./.
[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 157.
[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 110.
[3,4,5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 246.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 514.
[7,8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 486.
[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 203.
[10] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 110.
[11] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 655.
Lượt xem: 10
