BẢN ĐỒ NÔNG NGHIỆP SINH THÁI HÀ TĨNH: ĐỊNH HÌNH ĐÃ RÕ, TRIỂN KHAI NHƯ THẾ NÀO; CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, NGUỒN LỰC

Hóa giải nghịch cảnh thiên tai bằng tư duy đa giá trị

Hà Tĩnh - dải đất miền Trung nằm trong vùng tiểu khí hậu khắc nghiệt bậc nhất cả nước, nơi hằng năm phải gồng mình gánh chịu gió Lào thổi rát, bão lũ dồn dập và xâm nhập mặn sâu. Thế nhưng, chính trong gian khó, tư duy phát triển nông nghiệp nơi đây đang có sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt: Từ bỏ tư duy thâm canh chạy theo sản lượng bằng mọi giá để kiến tạo một nền nông nghiệp sinh thái đa giá trị, thích ứng chủ động và liên kết bền vững.

"Tam nông" thế hệ mới và triết lý ESG

(ESG là viết tắt của Environmental (Môi trường), Social (Xã hội) và Governance (Quản trị). Đây là bộ khung tiêu chuẩn dùng để đo lường mức độ phát triển bền vững và đánh giá những rủi ro, tác động toàn diện của một doanh nghiệp đối với cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận tài chính).

Bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững không còn là một khái niệm trừu tượng, mà được định hình rõ nét trên ba trụ cột cốt lõi: Kinh tế (tối ưu hóa chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả sản xuất), Xã hội (bảo đảm an sinh, nâng cao vai trò vị thế của cư dân nông thôn) và Môi trường (bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái).

Tại Hà Tĩnh, cơ sở lý luận này đã được cụ thể hóa sinh động bằng mô hình tam giác phát triển chiến lược "Tam nông" thế hệ mới:

Nông nghiệp sinh thái (Trọng tâm môi trường): Chuyển mạnh sang tích hợp sản xuất an toàn, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và sản xuất hữu cơ (Đây cũng là lộ trình hiện thực hóa định hướng của Chính phủ về việc đưa diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2% - 3/% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp). Đồng thời, việc áp dụng tiêu chuẩn ESG (Environment - Social - Governance) giúp nông nghiệp Hà Tĩnh nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc biến đổi khí hậu.

Nông thôn hiện đại (Trọng tâm xã hội): Không chỉ dừng lại ở bê tông hóa đường làng ngõ xóm, mà tập trung hiện đại hóa hạ tầng đồng bộ, bảo tồn bản sắc văn hóa bản địa độc đáo và kiến tạo không gian sống đáng sống, bền vững cho người dân.

Nông dân chuyên nghiệp (Trọng tâm kinh tế): Đây là lực lượng hạt nhân thúc đẩy sự thay đổi. Người nông dân Hà Tĩnh hôm nay đang chủ động chuyển dịch tư duy từ "sản xuất nông nghiệp" thuần túy sang làm "kinh tế nông nghiệp" thị trường, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và minh bạch hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ba phân vùng sinh thái - kinh tế: Chìa khóa thích ứng bền vững

Để hiện thực hóa triết lý trên, quy hoạch phát triển nông nghiệp Hà Tĩnh được cấu trúc chặt chẽ dựa trên đặc trưng địa lý và sinh thái của 3 tiểu vùng rõ rệt:

Vùng đồi núi và gò đồi phía Tây: Đánh thức kinh tế dưới tán rừng và thương hiệu bản địa. Nằm sát dãy Trường Sơn hùng vĩ, vùng phía Tây Hà Tĩnh sở hữu hơn 300.000 ha đất lâm nghiệp và hơn 10.000 ha cây ăn quả đặc sản tập trung tại 3 vùng Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn (ba huyện cũ).

Mũi nhọn tại đây là chuyển đổi từ trồng rừng gỗ nhỏ chu kỳ ngắn sang mô hình trồng rừng gỗ lớn kết hợp cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC). Dải rừng này không chỉ là sinh kế mà còn đóng vai trò là lá chắn phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nước và chống sạt lở cho vùng đồng bằng. Ngoài ra, góp phần hấp thụ carbon, hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải của tỉnh tại trục phát triển công nghiệp nặng phía Nam (Khu kinh tế Vũng Áng).

Bên cạnh đó, các mô hình trồng cây dược liệu, nông - lâm kết hợp hữu cơ dưới tán rừng đang mở ra hướng đi bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, các thương hiệu quốc gia như Bưởi Phúc Trạch, Cam bù, Cam chanh từng bước được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn GlobalGAP, liên kết với các doanh nghiệp để chế biến sâu. Cùng với đó, thương hiệu "Nhung hươu Hương Sơn" đang được đa dạng hóa chuỗi sản phẩm, kết hợp chăn nuôi đại gia súc theo mô hình tuần hoàn an toàn sinh học.

Vùng đồng bằng thấp trũng: Cuộc cách mạng "né lũ" và cộng sinh sinh thái.

Vùng đồng bằng Hà Tĩnh (Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Can Lộc, TX Hồng Lĩnh - huyện cũ) sở hữu gần 53.500 ha đất lúa mỗi vụ với hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ. Tuy nhiên, đây cũng là rốn lũ vào vụ Hè Thu.

Giải pháp đột phá ở đây là cơ cấu lại ngành lúa theo công thức: "Một giống, một thời vụ, một quy trình canh tác". Nhờ sử dụng các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao và chịu ngập tốt, nông dân có thể thu hoạch sớm, "né lụt" hoàn toàn trước ngày 30/8 dương lịch. Quy trình "tưới ngập khô xen kẽ" (AWD) cũng được áp dụng rộng rãi nhằm giảm phát thải khí nhà kính.

Tại các vùng chân ruộng trũng ven sông, mô hình cộng sinh lúa - rươi, lúa - cáy, lúa - cá phát triển mạnh mẽ. Do hoàn toàn không sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, hệ sinh thái đất và nước được tái tạo, theo các mô hình thực tế mang lại giá trị kinh tế gấp 3 - 5 lần so với độc canh cây lúa truyền thống. Đồng thời, chuỗi tuần hoàn chăn nuôi - trồng trọt cũng được khép kín nhờ tận dụng chất thải chăn nuôi qua xử lý sinh học làm phân bón hữu cơ bồi đắp ngược lại cho đất lúa.

Vùng bãi ngang và dải ven biển: Đón sóng công nghệ cao và kinh tế biển xanh

Với bờ biển dài 137 km và hơn 7.000 ha ao đầm thủy sản, vùng ven biển (Nghi Xuân, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh - huyện cũ) đang là nơi thử nghiệm cho các công nghệ nuôi biển hiện đại.

Hơn 2.500 ha nuôi tôm nước lợ thâm canh đã áp dụng công nghệ nuôi tôm trên cát trong nhà màng, sử dụng hệ thống tuần hoàn nước khép kín (RAS) hoặc lót bạt đáy. Phương thức này giúp người nuôi chủ động kiểm soát hoàn toàn dịch bệnh và giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường biển.

Trên dải cát trắng khô cằn, các mô hình nông nghiệp công nghệ cao như trồng hoa lan hồ điệp, rau củ quả hữu cơ tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước đã biến "sa mạc cát" thành những khu vườn trù phú. Song song đó, mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ, thả giống tái tạo nguồn lợi thủy hải sản đang hướng đến một nghề cá xanh, trách nhiệm và giảm thiểu tình trạng đánh bắt bất hợp pháp (IUU).

Sức bật từ những "đầu kéo" liên kết chuỗi giá trị

Mọi mô hình lý thuyết sẽ chỉ nằm trên giấy nếu thiếu đi vai trò "đầu kéo" của các doanh nghiệp hạt nhân và tổ hợp tác liên kết chuỗi giá trị. Thực tế tại Hà Tĩnh đã chứng minh qua việc bắt tay "4 nhà", mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ rệt, mặc dù đang ở giai đoạn bước đầu:

Công ty CP Giống và Thương mại Hà Tĩnh: Đơn vị chủ lực đồng hành cùng các HTX tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên triển khai canh tác lúa giảm phát thải theo quy trình AWD. Đây là bước đệm quan trọng hướng tới thương mại hóa tín chỉ carbon nông nghiệp trong tương lai gần.

Tập đoàn DOVECO: Đối tác lớn bao tiêu toàn bộ diện tích dứa nguyên liệu và rau củ quả vùng gò đồi, giải bài toán "được mùa mất giá" của bà con nông dân.

Tổ hợp tác lúa rươi Đậu Giang (Kỳ Anh): Một ví dụ điển hình của mô hình cộng sinh sinh thái vùng cửa sông lạch. Không dùng bất kỳ một giọt hóa chất nào, người nông dân vừa có lúa sạch, vừa có nguồn thu lớn từ rươi tự nhiên, giúp nâng cao thu nhập gấp từ $3 - 5$ lần so với trồng lúa truyền thống.

Tập đoàn Quế Lâm: Doanh nghiệp hạt nhân đi đầu trong ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với Hà Tĩnh. Tập đoàn đã phát triển thành công một số mô hình liên kết chuỗi tại 9 địa phương, đơn vị. DN bao tiêu sản phẩm nông nghiệp sạch (như gạo hữu cơ DT39, thịt lợn sinh học sử dụng đệm lót vi sinh) với mức giá thu mua cam kết ổn định (như thu mua lúa tươi đạt giá sàn 8.500 đ/kg), giúp người nông dân an tâm sản xuất.

Công ty Cổ phần Nafoods Hà Tĩnh: Hiện cũng đang có nhiều hợp tác về Nông nghiệp tại Hà Tĩnh (trồng dứa…).

Tuy vậy, đâu là lời giải cho tương lai: Hệ giải pháp đồng bộ

Để nền nông nghiệp sinh thái Hà Tĩnh cất cánh bền vững, địa phương cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 nhóm giải pháp chiến lược sau:

(1) Hoàn thiện chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất: Đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, tích tụ tập trung đất đai hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tạo quỹ đất sạch đủ hấp dẫn để thu hút các dòng vốn đầu tư lớn từ doanh nghiệp công nghệ cao.

(2) Mở rộng chuỗi liên kết giá trị đa bên: Lấy các doanh nghiệp dẫn dắt làm hạt nhân để chuẩn hóa quy trình sản xuất sạch (VietGAP, GlobalGAP, Hữu cơ); số hóa và minh bạch hệ thống truy xuất nguồn gốc để nâng tầm vị thế nông sản đặc sản Hà Tĩnh trên thị trường quốc tế.

(3) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và nông nghiệp số: Số hóa dữ liệu thổ nhưỡng, thời tiết, lập bản đồ cảnh báo thiên tai sớm. Ưu tiên công nghệ tuần hoàn sinh học và canh tác giảm phát thải nhằm đón đầu xu thế kinh tế xanh và thương mại hóa tín chỉ carbon.

(4) Phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị: Khuyến khích mô hình du lịch canh nông, kết hợp hài hòa sản xuất nông nghiệp với trải nghiệm sinh thái nhà vườn (bưởi Phúc Trạch, đồi chè Kỳ Trung, vườn cam Vũ Quang). Đây chính là chìa khóa để vừa bảo tồn bản sắc văn hóa làng quê, vừa làm giàu thêm nguồn sinh kế bền vững cho người dân đất Hồng Lam.

(5) Ngoài ra, cần có giải pháp cụ thể để huy động các nguồn lực trong nước, ODA, PPP… đảm bảo thích ứng biến đổi khí hậu, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đối với khu vực dễ bị tổn thương:

Tính nhân văn trong chủ trương, chính sách của Đảng đối với nông nghiệp nằm ở việc bảo đảm an sinh xã hội, lấy con người (đặc biệt là nông dân) làm trung tâm. Cơ chế, chính sách cho nông nghiệp là bệ đỡ giúp ổn định nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và nâng cao chất lượng đời sống cho đa số người dân.

Cơ chế chính sách nông nghiệp là công cụ của Nhà nước nhằm định hướng, hỗ trợ và điều tiết ngành nông nghiệp. Chúng là nhóm giải pháp đồng bộ, cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ người nông dân trước rủi ro, thu hút đầu tư và thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững.

Trong lịch sử phát triển của tỉnh, Hà Tĩnh luôn quan tâm, coi trọng công tác tam nông là nhiệm vụ cốt yếu của cả Hệ thống chính trị các cấp, bao gồm cả quyết sách và nguồn lực đi kèm. Tuy vậy, trong bối cảnh tình hình mới, mặc dù là địa phương đang tập trung nguồn lực cho những mục tiêu lớn để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, mạnh, nhưng với sự nhìn nhận sâu sắc và thực hiện nghiêm quan điểm nhân văn của Đảng và Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã quyết tâm bố trí nguồn lực trước mắt cho giai đoạn 2026-2030 và thông qua “Đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026-2030” là hết sức cần thiết.

Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách trong dự thảo nghị quyết:

Việc phân biệt chính sách trong dự thảo hiện nay chưa bao quát được các định mức hỗ trợ cốt lõi theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP. Điều này vô hình dung tạo ra "khoảng trống" lớn so với định hướng phát triển rừng bền vững của Trung ương, đồng thời chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người trồng rừng, chăm sóc rừng.

Hà Tĩnh hiện có 358.279 ha rừng và đất lâm nghiệp, phân bố trên địa bàn 66 phường, xã (chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên); trong đó: Đất có rừng 337.954ha (rừng tự nhiên 217.630ha; rừng trồng 119.964ha); đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp 20.686ha. Phân theo quy hoạch 3 loại rừng: đặc dụng 74.501ha, phòng hộ 115.956ha, sản xuất 167.822ha. Trong đó diện tích rừng tự nhiên nghèo và nghèo kiệt, chưa có trữ lượng 91.381ha (rừng tự nhiên nghèo 77.818ha, nghèo kiệt 9.970ha, rừng chưa có trữ lượng 3.593ha).

Xét trên bình diện chiến lược, các chính sách này chưa thực sự tương xứng với tiềm năng lâm nghiệp của tỉnh, cũng như chưa bám sát tinh thần chuyển đổi xanh của Trung ương và Quy hoạch tỉnh (đặc biệt là phân vùng phát triển kinh tế sinh thái - nông nghiệp - lâm nghiệp bền vững). Do đó, việc rà soát, bổ sung các cơ chế chính sách lâm nghiệp là yêu cầu mang tính cấp thiết để khơi thông nguồn lực và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC BỔ SUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

Việc rà soát và bổ sung các chính sách lâm nghiệp là yêu cầu mang tính khách quan và cấp bách, xuất phát từ các lý do trọng yếu sau:

Thích ứng với biến đổi khí hậu và cam kết quốc tế: Trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và cam kết mạnh mẽ của Việt Nam tại COP26 về đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, rừng đóng vai trò là "bể hấp thụ carbon" chiến lược. Việc bổ sung chính sách hỗ trợ khoán bảo vệ rừng và cấp chứng chỉ rừng bền vững (FSC/VFCS) không chỉ giúp nâng cao chất lượng rừng mà còn trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường và ứng phó với thiên tai.

Giải quyết bài toán sinh kế, gắn kết cộng đồng với rừng: Thực tế cho thấy, bảo vệ rừng chỉ thực sự bền vững khi người dân - đặc biệt là hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng sâu, vùng xa - coi rừng là "kế sinh nhai". Chính sách hỗ trợ an sinh (trợ cấp gạo) và nâng mức khoán bảo vệ rừng là giải pháp trực tiếp để giải tỏa áp lực kinh tế, ngăn chặn tình trạng xâm lấn rừng trái phép, từ đó tạo động lực để cộng đồng địa phương gắn bó lâu dài với công tác giữ rừng.

Hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp: Sự thiếu hụt hạ tầng lâm sinh (đường lâm nghiệp, đường băng cản lửa) đang là "nút thắt" kìm hãm năng suất và hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng. Việc bổ sung nguồn lực đầu tư hạ tầng không chỉ giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng khả năng tiếp cận vùng nguyên liệu mà còn nâng cao tính chủ động trong ứng phó với hỏa hoạn, bảo vệ tài sản rừng trước những rủi ro khách quan.

Chuyển dịch sang lâm nghiệp công nghệ cao và giá trị gia tăng: Việc hỗ trợ 50% chi phí xây dựng rừng giống, vườn cây đầu dòng và vườn ươm nuôi cấy mô là bước đi chiến lược nhằm kiểm soát chất lượng nguồn giống ngay từ đầu vào. Đây là nền tảng tất yếu để chuyển dịch từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp công nghệ cao, nâng cao chất lượng gỗ, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu, từ đó nâng tầm giá trị kinh tế của ngành lâm nghiệp.

Đề xuất bổ sung cơ chế, chính sách vào dự thảo Nghị quyết quy định chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026-2030:

Nhằm tháo gỡ các "nút thắt" và tối ưu hóa tiềm năng ngành lâm nghiệp, đề nghị bổ sung các nhóm chính sách trọng điểm vào dự thảo Nghị quyết như sau:

Chính sách hỗ trợ lãi suất (Bổ sung vào Điều 4): Tín dụng lâm nghiệp gỗ lớn: Bổ sung cơ chế hỗ trợ chênh lệch lãi suất cho các dự án đầu tư trồng rừng gỗ lớn, tạo động lực tài chính dài hạn cho chủ rừng.

Chính sách phát triển lâm nghiệp (Bổ sung 5 nhóm nội dung vào Điều 9):

(1) Khoán bảo vệ rừng: Hỗ trợ kinh phí khoán bảo vệ rừng (nguồn vốn ngoài cân đối từ Ngân sách Trung ương và nguồn thu lợi từ FSC) với mức bình quân dưới 500.000 đồng/ha/năm. Áp dụng hệ số điều chỉnh: Khu vực II (nhân hệ số 1,2) và khu vực ven biển (nhân hệ số 1,5) để đảm bảo tính đặc thù.

(2) Chứng chỉ rừng bền vững (FSC/VFCS): Hỗ trợ một lần kinh phí xây dựng phương án và cấp chứng chỉ (tối đa 400.000 đồng/ha; ngân sách dự kiến khoảng 400 triệu đồng/năm). Việc này giúp người dân và chủ rừng chủ động về mặt pháp lý, tránh tình trạng phụ thuộc vào các doanh nghiệp trung gian khi giao dịch tín chỉ carbon trên thị trường.

(3) Hạ tầng lâm sinh: Hỗ trợ đầu tư hạ tầng thiết yếu tại các vùng tập trung, cụ thể: Đường lâm nghiệp: Tối đa 450 triệu đồng/km; Đường băng cản lửa: Tối đa 100 triệu đồng/km.

(4) Giống cây lâm nghiệp: Hỗ trợ 50% tổng vốn đầu tư cho các hạng mục kỹ thuật cao: Xây dựng rừng giống: 55 triệu đồng/ha; Vườn cây đầu dòng: 25 triệu đồng/ha; Vườn ươm nuôi cấy mô: 300 triệu đồng/vườn.

(5) Chính sách an sinh (Trợ cấp gạo): Hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng cho các hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp tham gia giữ rừng tại các xã khu vực II, nhằm tạo sự gắn kết bền vững giữa người dân và tài nguyên rừng.

Như vậy, việc bổ sung các nhóm chính sách này không chỉ là giải pháp tình thế nhằm tháo gỡ khó khăn hiện tại, mà còn là bước đi mang tính chiến lược để phát huy tối đa tiềm năng kinh tế, xã hội và môi trường của rừng. Đây là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương trong giai đoạn mới.

"Tam nông" (nông nghiệp, nông dân và nông thôn) từ lâu đã trở thành trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, là điểm tựa vững chắc trước mọi biến động của thời cuộc. Không còn là những mảnh ghép rời rạc, nông nghiệp hiện nay đóng vai trò là mắt xích trọng yếu, một chất xúc tác không thể thiếu để gắn kết sản xuất với tiêu dùng, thương mại, du lịch và hạ tầng cơ sở. Chính sự cộng hưởng đa ngành, đa lĩnh vực một cách đồng bộ đã định vị nông nghiệp là "bệ đỡ" vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. Hơn thế nữa, làm chủ được khu vực nông nghiệp, nông thôn chính là chìa khóa để bảo đảm an ninh lương thực và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng, an ninh quốc gia.

Trên dải đất miền Trung khắc nghiệt, Hà Tĩnh đang tự viết nên một chương mới đầy bản lĩnh, với sự đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân. Bằng tư duy "thuận tự nhiên" đầy khoa học, kết hợp với tinh thần đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, địa phương đã phân vùng sinh thái hợp lý, tạo ra mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp hạt nhân. Việc biến nắng gió và bão lũ thành lợi thế cạnh tranh không còn là mục tiêu, mà đã trở thành tư duy chủ đạo trong mọi chiến lược phát triển.

Hành trình phía trước đặt ra một mệnh đề phát triển tất yếu: Khẳng định vị thế của một nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn. Đó không chỉ là lộ trình chuyển đổi về phương thức sản xuất, mà là cam kết hiện thực hóa sự thịnh vượng bền vững - nơi giá trị không chỉ đo đếm qua những con số, mà đơm hoa kết trái bằng chất lượng sống của mảnh đất và con người Hà Tĩnh. Tầm nhìn ấy cộng hưởng sâu sắc với khát vọng chung của dân tộc, khi cả nước đang nỗ lực vươn mình trở thành quốc gia phát triển, hùng cường và thịnh vượng vào năm 2045. Đó là hành trình mà ở đó, sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, kinh tế số cùng sự nâng tầm vị thế của tỉnh nhà chính là những đóa hoa tươi thắm, kết tinh ý chí và khát vọng để dâng lên Đảng, báo công với Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước.

Nguyễn Văn Tuấn - Phó Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh

Lượt xem: 171

Xem nhiều nhất

ĐÁNH THỨC DI SẢN LÃN ÔNG: "HÀNH TRANG" ĐÔNG Y VIỆT TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH

Trao đổi nghiên cứu 07/07/2026

Trong bối cảnh nhân loại đang đối mặt với "làn sóng kháng kháng sinh" thầm lặng và sự trỗi dậy mạnh mẽ của xu hướng sống thuận tự nhiên, di sản của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không còn chỉ là câu chuyện của lịch sử. Đó là một "kho báu" chiến lược; nếu được đánh thức đúng cách, nó sẽ tạo ra cú hích lớn cho nền kinh tế chăm sóc sức khỏe và định hình bản sắc văn hóa Việt trong kỷ nguyên mới.