SINH TỪ VÀ MỘT SỐ NHÂN VẬT TIÊU BIỂU ĐƯỢC LẬP SINH TỪ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Sinh từ là ngôi đền được lập ra để thờ tự một người ngay khi họ vẫn còn đang sống. Trong văn hóa Việt Nam, đây được xem là một hình thức vinh danh vô cùng đặc biệt, chủ yếu dành cho những nhân vật có công trạng hiển hách với non sông hoặc những vị quan thanh liêm có đức độ to lớn cảm hóa được lòng dân.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tập tục lập đền thờ khi còn sống bắt đầu từ thời Bắc thuộc (khoảng thế kỷ I) rồi thực sự xuất hiện rõ nét từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVII) và phát triển mạnh mẽ nhất vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Sinh từ thường được phân thành ba loại hình chính:

Sinh từ tri ân, là những ngôi đền mang ý nghĩa “báo đáp công đức”, do chính nhân dân tự nguyện lập nên để tri ân các vị quan thanh liêm, hết lòng vì dân. Tiêu biểu như Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ hay Tiến sĩ Hà Tông Mục.

Sinh từ quyền lực, là những công trình xa hoa do các quyền thần tự lập ra để phô trương uy thế và quyền lực cá nhân, điển hình như trường hợp của các chúa Trịnh.

Sinh từ dự phòng, là nơi do một cá nhân tự xuất tiền của xây dựng để chuẩn bị trước cho hậu sự của chính mình, như trường hợp của Quận công Nguyễn Ngọc Huyền.

Việc thống kê chính xác 100% số lượng các nhân vật từng được lập sinh từ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc là một bài toán không thể thực hiện được. Dựa trên các bộ chính sử và hệ thống kho tàng văn bia, các gia phả dòng họ, con số này ước tính có thể lên đến cả trăm trường hợp, nhưng công tác thống kê luôn vấp phải ba trở ngại lớn. Thứ nhất, sự thay đổi về mặt định danh. Đa số các “sinh từ” đều được đổi tên thành “từ đường”, “đền” hoặc “miếu” ngay sau khi nhân vật qua đời. Thứ hai, sự hủy hoại của thời gian và chiến tranh đã khiến nhiều bia đá ghi nhận các sinh từ ở quy mô làng xã bị thất lạc, vĩnh viễn mất đi dấu tích. Thứ ba, tư liệu lịch sử vô cùng tản mát. Nếu như các bộ chính sử thường chỉ chú trọng chép lại công trạng của các bậc đại thần, thì những vị quan có địa vị thấp hơn được nhân dân lập đền thờ sống lại chỉ xuất hiện rải rác trong các cuốn gia phả hoặc thần phả tại địa phương.

Dẫu phải đối mặt với vô vàn lớp bụi thời gian, nhưng những ghi chép trong sử sách cùng lòng tri ân sâu sắc của nhân dân vẫn lưu giữ được nhiều chứng liệu về các nhân vật được lập sinh từ. Mỗi di tích, mỗi cái tên được xướng lên đều gắn liền với một câu chuyện đầy tự hào về đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc.

Loại bỏ các nhân vật lập sinh từ bằng quyền lực hoặc lập để dự phòng như đã nới ở trên, chúng tôi xin giới thiệu bốn nhân vật tiêu biểu đã được lập sinh từ do nhân dân tri ân trong lịch sử Việt Nam theo trình tự thời gian.

Lăng mộ của Thái sư Trần Thủ Độ ở xã Canh Tân, tỉnh Hưng Yên (Ảnh Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

1. Thái sư Trần Thủ Độ (1194-1264), người hương Lưu Xá, phủ Long Hưng, lộ Sơn Nam Hạ, tỉnh Thái Bình [1] (nay là xã Canh Tân, tỉnh Hưng Yên). Ông là nhân vật lịch sử đóng vai trò chủ chốt trong việc thiết lập và củng cố quyền lực của vương triều Trần. Bằng tài mưu lược, ông đã tiến hành những biện pháp vô cùng cương quyết, khôn khéo để dập tắt hy vọng khôi phục cơ nghiệp của quý tộc họ Lý. Trong bộ máy nhà nước, ông được giao những trọng trách lớn nhất, nắm giữ chức Thống quốc Thái sư, cai quản vùng đất quan trọng Thanh Hóa và được ban thái ấp tại Quắc Hương. Các sử thần nhà Lê đánh giá Trần Thủ Độ là người tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người, lúc làm quan từ triều Lý đã được mọi người suy tôn. Khi làm Tể tướng triều Trần, ông tận tụy với quốc gia, phàm công việc gì cũng đều chú tâm để ý. Nhờ vậy, ông đã giúp lập nên nghiệp Vương vững chắc cho nhà Trần và giữ được tiếng tốt cho đến lúc qua đời. Chi tiết về việc ông được lập sinh từ gắn liền với sự ghi nhận công lao đã cống hiến cho triều đình. Cụ thể, vua Trần Thái Tông (Thái Tôn) đã cho lập sinh từ và đích thân làm bài văn bia đặt ở sinh từ này [2].

Tượng đài Trần Hưng Đạo ở công viên Mê Linh Thành phố Hồ Chí Minh và Đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo

2. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300), người Phủ Thiên Trường (nay là phường Lộc Vượng, tỉnh Nam Định). Ông là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Đại Việt, có công lao vô cùng to lớn trong công cuộc bảo vệ bờ cõi, lãnh đạo quân dân ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông vào thế kỷ XIII. Cảm tạ công lao vĩ đại của ông, ngay từ năm 1288 khi ông vẫn còn sống, triều đình nhà Trần đã ban thưởng và cho lập sinh từ (còn gọi là Từ Cũ) ngay tại trung tâm đại bản doanh Vạn Kiếp (nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng). Đích thân vua Trần Thánh Tông đã soạn bài văn bia tại sinh từ để ví ông với bậc Thượng phụ ngày xưa. Không chỉ tại Vạn Kiếp, nhân dân vùng A Sào (Hưng Yên), nơi vốn là thái ấp của gia đình và là hậu phương trọng yếu ven sông Hóa do ông chỉ huy, cũng lập đền thờ sống ông, gọi là “Đệ nhị sinh từ” (sau Đệ nhất sinh từ ở Kiếp Bạc). Hiện nay, di tích sinh từ tại Vạn Kiếp đã được triển khai thám sát khảo cổ, trong khi Đền Kiếp Bạc và Đền A Sào vẫn đang là những di tích lịch sử linh thiêng thu hút đông đảo du khách thập phương [3].

Đền thờ họ Hà ở xã Tùng Lộc, nơi thờ tiến sĩ Hà Tông Mục và Bia Sùng Chỉ (bia lớn bên trái).

3. Tiến sĩ Hà Tông Mục (1653 - 1707, Thế kỷ XVII - XVIII), người xã Tỉnh Thạch, tổng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là một danh sĩ đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 35 tuổi, nhà ngoại giao xuất sắc từng đi sứ nhà Thanh và giữ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên thời Lê - Trịnh. Ở bất cứ cương vị nào, ông luôn khuyến khích người dân lấy nghề nông làm gốc, giáo hóa nhân từ, giúp mùa màng bội thu, đời sống ổn định. Vô cùng cảm kích trước sự thanh liêm và tấm lòng chăm lo cho nhân dân của ông, vào năm Chính Hòa thứ 17 (1696), khi ông mới 43 tuổi, quan viên và nhân dân 4 thôn (Mông Tiết, Trung Hậu, Vinh Phúc, Hựu Phúc) thuộc quê nhà đã quyên góp tiền của lập sinh từ và dựng bia Sùng Chỉ. Khu di tích Hà Tông Mục tại xã Tùng Lộc đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1999 và đặc biệt tấm bia Sùng Chỉ đã được công nhận là Bảo vật quốc gia [4].

Một góc Khu tưởng niệm Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tại Tiền Hải và Đền thờ Nguyễn Công Trứ tại Kim Sơn 

4. Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ (1778-1858), người làng Uy Viễn, tổng Phan Xá, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Tiên Điền, tỉnh Hà Tĩnh). Dưới triều đại nhà Nguyễn, ông là một danh thần có tầm nhìn chiến lược, lập công lao lịch sử vô tiền khoáng hậu trong công cuộc chiêu dân, khai khẩn vùng bãi bồi ven biển. Nhờ tài năng tổ chức, chiêu tập dân chúng, ông đã biến những vùng đầm lầy hoang vu trở thành những cánh đồng trù phú, chính thức lập ra huyện Tiền Hải vào năm 1828 (tỉnh Thái Bình) và huyện Kim Sơn vào năm 1829 (tỉnh Ninh Bình). Ghi nhớ ân đức lớn lao tựa như người cha đã sinh ra quê hương, đất đai cho dân nghèo, nhân dân hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn đã đồng lòng dâng sớ lên triều đình xin được lập sinh từ thờ phụng ông ngay khi ông vẫn đang làm quan cai trị. Hiện nay, ngôi đền thờ khang trang tại huyện Kim Sơn (Ninh Bình) thực chất vốn là ngôi sinh từ cũ mà lúc sinh thời cụ Nguyễn Công Trứ từng ghé thăm [5].

Lập sinh từ là đỉnh cao của sự vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa. Đối với người được lập sinh từ, đó là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì nó xuất phát từ “lòng dân”. Ngày nay, các di tích sinh từ không chỉ là nơi thờ tự mà còn là bài học sống động về đạo đức của người làm quan như câu ca trong dân gian của người xưa: “Thương dân dân lập đền thờ”./.

[1]https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%99

[2]Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên - Quyển VII, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 215

[3] https://baohaiphong.vn/som-phuc-dung-di-tich-sinh-tu-262245.html

[4]Nhiều tác giả - Thái Văn Sinh Chủ biên (2021), Danh nhân Hà Tĩnh, NXB Dân trí, tr 329

[5] Nhiều tác giả - Thái Văn Sinh Chủ biên (2021), Danh nhân Hà Tĩnh, NXB Dân trí, tr 389

Thái Văn Sinh

Lượt xem: 14

KẺ GỖ, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Trao đổi nghiên cứu 25/03/2026

Có thể với bây giờ, Kẻ Gỗ được xem là một địa chỉ du lịch hấp dẫn và những kênh mương đầy ắp nước trải nhánh trên các làng quê xanh tít tắp, trù phú đã trở nên quen thuộc. Nhưng diện mạo Kẻ Gỗ và làng quê trước đó ra sao thì có thể rất nhiều người không được biết. Kẻ Gỗ xưa chỉ là một vùng núi đồi hoang vu, những làng quê Cẩm Xuyên, Thạch Hà khi chưa có kênh mương Kẻ Gỗ chảy qua chỉ là những vùng quê khô khát, cằn cỗi, mùa hạ cây cối cháy xém, xác xơ. Nó ám ảnh cả vào trong những câu ca xưa: “Đất Cẩm Bình cày khô cuống rạ/ Đít chạc cày[ [1] ]trâu ngã lăn quay”. Nó đi vào thơ ca chân thật, sống động: “ Đồng Thạch Hà, Cầm Xuyên cò bay cháy cánh / T ự bao đời, cát nóng bỏng bàn chân / Con dẽ, con giun khô dưới lớp đất c ằ n ”[ [2] ]