Quản lý kinh tế vĩ mô trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI và vấn đề sửa đổi Chương chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992 (Phần 2)
EmailPrintAa
10:21 15/06/2013

Văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI xác định rất nhiều giải pháp về nâng cao vai trò quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Các giải pháp này là kết quả của nhiều nghiên cứu được thực hiện trước đây và được thể hiện trong các văn kiện của các Hội nghị Trung ương Khóa IX. Đặc biệt trong Nghị quyết số 21 của Ban chấp hành Trung ương Khóa XI về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những phương thức quản lý kinh tế vĩ mô trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI được phát triển thêm rất nhiều so với những gì đã có trong các văn kiện của Đảng trước đây căn cứ vào thực tiễn thể chế hóa và hiện thực hóa trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong suốt thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI.

Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý kinh tế vĩ mô

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định các nguyên tắc cơ bản trong quản lý kinh tế vĩ mô.

Nguyên tắc phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, đây là một trong những nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI. Riêng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015 có 9 lần đề cập đến phát triển bền vững. Với vị trí như vậy, phát triển bền vững chắc chắn là một trong những vấn đề cần được chú trọng khi sửa đổi Hiến pháp 1992. Phát triển bền vững được hiểu theo cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, điểm thống nhất cơ bản là phát triển gắn với bảo vệ môi trường. Quan điểm về phát triển bền vững được thừa nhận rộng rãi, bao gồm các yếu tố sau: sự xóa bỏ nghèo đói và bóc lột; sự giữ gìn và tăng cường các nguồn tài nguyên mà chỉ với chúng mới có thể bảo đảm việc xóa nghèo được liên tục; phải bao gồm sự tăng trưởng cả kinh tế lẫn văn hóa xã hội; sự thống nhất giữa môi trường sinh thái và kinh tế trong hoạch định chính sách.

Phát triển bền vững, nhất là những yêu cầu của nó, cần được thể chế hóa thành chính sách. Quyết định chính sách là bước quan trọng trong phát triển bền vững vì việc kết hợp giữa phát triển và bảo vệ môi trường phụ thuộc rất lớn vào việc ban hành các chính sách đúng đắn. Thực tế ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, nơi mà việc quyết định chính sách thường bị chi phối bởi một nhóm lợi ích hoặc một cá nhân có quyền lực và ảnh hưởng sẽ tạo ra nguy cơ đối với phát triển bền vững. Gắn liền với việc ra chính sách là vị trí và thẩm quyền của cơ quan ban hành chính sách và quyết định. Việc xác định đúng vị trí, tạo ra được sự kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau giữa các hệ cơ quan quyền lực nhà nước cũng là yếu tố quan trọng của phát triển bền vững. Các quyết định sẽ ít bị tham nhũng, ít bị lợi ích cá nhân chi phối nếu như các cơ quan ban hành chúng được đặt dưới sự giám sát của cộng đồng và sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước khác. Trong hệ thống các công cụ bảo đảm phát triển bền vững thì pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính sách đúng đắn là điều kiện tiền đề quan trọng, song pháp luật mới là công cụ chuyển tải các chính sách đã được hoạch định, được ban hành vào cuộc sống. Cơ chế giải quyết các tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm phát triển bền vững. Những vấn đề môi trường thường gắn nhiều với cộng đồng, ví dụ như rừng, nước, ô nhiễm... Lợi ích cộng đồng xung đột khá thường xuyên với việc xây dựng các dự án, tiến hành các hoạt động kinh tế.

Nguyên tắc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan điểm này cũng được nhấn mạnh trong các Văn kiện mặc dù tần suất ít hơn so với việc khẳng định nguyên tắc phát triển bền vững. Quan điểm này coi kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Khi nghiên cứu quan điểm lớn này ở khía cạnh Hiến định, một số phân tích sau cần được lưu ý.

Thứ nhất, đây là quan điểm mang tính định hướng chính trị nhiều hơn là một phương thức hay giải pháp kinh tế vĩ mô. Điều có thể nhận thấy là trong hệ thống pháp luật hiện hành cũng như trong các văn kiện của Đảng không có bất cứ tiêu chí nào để xác định thế nào là chủ đạo. Chủ đạo đồng nghĩa với quy mô lớn hay đồng nghĩa với hiệu quả cao? Nếu xác định vai trò chủ đạo ở khía cạnh kinh tế nhà nước có quy mô lớn về vốn, lao động, số lượng thì trong điều kiện kinh tế thị trường, đây sẽ là sự suy yếu kinh tế nhà nước. Kinh tế thị trường đòi hỏi hiệu quả và chỉ có hiệu quả mới làm cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường. Xu hướng tư nhân hóa và cổ phần hóa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhà nước ở nhiều nước tư bản vốn được coi là có thành phần kinh tế nhà nước lớn như Nhật Bản, Indonesia, Malaysia cho thấy, ngay với sự điều hành và quản lý tốt từ phía Chính phủ, thành phần kinh tế nhà nước cũng không thể mang lại hiệu quả.

Thứ hai, thực tiễn phát triển của đất nước cho thấy, quan điểm về vai trò chủ đạo không thực sự thuyết phục. Thành phần kinh tế là khái niệm kinh tế khó xác định nội hàm cụ thể. Vì vậy, việc thể chế hóa thành khái niệm Hiến định chỉ mang tính hình thức, không thể chuyển hóa thành các quy định cụ thể của pháp luật. Bản thân khái niệm thành phần kinh tế nhà nước cũng không thể thuần nhất, vì có cả những doanh nghiệp nhà nước mà sở hữu được chia sẻ giữa nhà nước và tư nhân, nhiều công trình hạ tầng xây dựng theo các phương thức BOT, BTO... – không thể xác định một cách rõ ràng chúng thuộc thành phần kinh tế nhà nước hay kinh tế tư nhân. Vì vậy, đặt vấn đề vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước thực chất chỉ là ước muốn chính trị.

Thứ ba, quan điểm này mâu thuẫn với những thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dựng. Và một trong những nền tảng cơ bản là cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Mặt khác, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI chủ trương hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế, khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Như vậy, xét ở yêu cầu bảo đảm tính cạnh tranh bình đẳng thì việc xác định vai trò chủ đạo khó lý giải. Hơn nữa, giữa vai trò chủ đạo và vai trò động lực thì không ranh giới cũng khó có thể xác định được một cách rõ ràng.

Nguyên tắc nền kinh tế tồn tại trên nhiều quan hệ sở hữu. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI xác định là phải phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Không thể có kinh tế thị trường nếu không có sự tồn tại của các sở hữu khác nhau đối với các tư liệu sản xuất. Vì vậy, cũng có định nghĩa cho rằng, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu khác nhau. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, phát triển doanh nghiệp cổ phần trở thành loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu. Quan hệ sở hữu chủ yếu trong đời sống kinh tế rất đa dạng, song đều hình thành, vận động trên chế độ sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước. Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân, còn sở hữu nhà nước là sở hữu công. Từ chế độ sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước có thể hình thành nhiều hình thức sở hữu khác nhau gồm sở hữu chung, sở hữu hỗn hợp, sở hữu tập thể. Những doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau thường được quy về thành phần kinh tế. Tuy nhiên, có thể thấy, khái niệm thành phần kinh tế chỉ là phạm trù kinh tế mang tính tương đối. Do vậy, việc Hiến định thành phần kinh tế khó tạo ra nền tảng cho việc hình thành các chế định pháp lý. Trong lịch sử lập pháp, chúng ta đã tạo ra nhiều khái niệm khá mơ hồ dù nó có cội nguồn kinh tế. Ví dụ, khái niệm hộ gia đình, khái niệm sở hữu toàn dân, khái niệm thành phần kinh tế. Vì vậy, rất cần làm rõ các vấn đề sở hữu trước khi Hiến định các nguyên tắc và quy định về sở hữu.

Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế có thể được thừa nhận là bình đẳng trong pháp luật và thậm chí trong Hiến pháp, song thiếu những bảo đảm cho cơ chế cạnh tranh minh bạch, bình đẳng thì khó có thể có được sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ sở hữu, các doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong quan hệ kinh tế mới chỉ là điều kiện cần. Nhiều quốc gia có được những điều kiện này, song vẫn chưa thể trở thành nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Việt Nam cũng ở trong tình trạng như vậy. Điều kiện đủ là sự tồn tại của cơ chế cạnh tranh, của quy luật giá trị trong các quan hệ kinh tế thương mại. Bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch mà Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI hướng đến là thúc đẩy sự định hình vững chắc các quan hệ kinh tế thị trường ở nước ta. Chỉ khi hội tụ các điều kiện cần và đủ nói trên thì nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường. Bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch đòi hỏi phải được thể hiện đầy đủ ở những giải pháp vĩ mô, trong việc điều hòa nguồn lực, trong chính sách thuế và xuất nhập khẩu. Việc các nguồn lực không được phân bổ theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, việc nâng giá sản phẩm, hàng hóa do yêu cầu của các doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ, việc ưu đãi vay vốn đối với doanh nghiệp này, song hạn chế đối với doanh nghiệp khác... không thể đáp ứng được yêu cầu nêu trên. Những bất cập này đang tồn tại trong các thể chế kinh tế hiện nay ở nước ta và đang cản trở sự phát triển của đất nước.

Nguyên tắc quản lý bằng pháp luật, kế hoạch. Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất. Trong các công cụ này, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này cũng được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 có 4 lần nhắc đến hệ thống pháp luật; trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) có 9 lần đề cập đến pháp luật; Báo cáo Chính trị có 5 lần đề cập đến hệ thống pháp luật.

Chiến lược đã nhấn mạnh những sự bất cập của hệ thống pháp luật như là một trong những nguyên nhân của sự yếu kém trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước giai đoạn 2000 – 2010. việc hoàn thiện hệ thống pháp luật được Chiến lược đề cập như là giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Tuy có những khẳng định khá chính thức về vai trò của hệ thống pháp luật, song trong Văn kiện lại thiếu các giải pháp đột phá nhằm nâng cao vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ xử lý các mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Nếu không xác định được các biện pháp hoặc nguyên tắc chủ đạo cho việc xử lý quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, thì những sự nhấn mạnh nêu trên trong Văn kiện vẫn khó mang lại những thay đổi cơ bản cho vai trò của hệ thống pháp luật đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.


    Ý kiến bạn đọc