Tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021-2025
EmailPrintAa
13:43 11/12/2024

Thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định và phân công của Thường trực HĐND tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách thẩm tra tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách, đầu tư công năm 2024; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2025 và các Tờ trình, dự thảo Nghị quyết về một số nội dung trên lĩnh vực kinh tế và ngân sách. Thay mặt Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh, đồng chí Nguyễn Thị Thúy Nga - Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã báo cáo kết quả thẩm tra như sau:

Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2024: dưới sự lãnh đạo sát sao, kịp thời của Trung ương, của Tỉnh ủy; sự đồng hành, linh hoạt, chặt chẽ, hiệu quả của Hội đồng nhân dân; công tác chỉ đạo, điều hành chủ động, tích cực, sâu sát, quyết liệt, bài bản của Ủy ban nhân dân tỉnh; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành; tinh thần đoàn kết, quyết tâm cao của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp tỉnh nhà...nên tình hình kinh tế - xã hội năm 2024 đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh Nguyễn Thị Thúy Nga báo cáo tại kỳ họp

Có 26/28 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch đề ra , tăng trưởng kinh tế dự kiến đạt 7,48%, cao hơn mục tiêu chung của cả nước. Sản xuất nông nghiệp tăng cao so với cùng kỳ; năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều tăng cao; Hoạt động chăn nuôi giá cả ổn định được nhân dân đầu tư trở lại; Sản xuất lâm nghiệp được các cấp, ngành quan tâm thực hiện; Sản xuất thủy sản tăng 2.209 tấn so với cùng kỳ năm; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, mỗi xã một sản phẩm đảm bảo theo kế hoạch đề ra. Công tác chỉnh trang, xây dựng và phát triển đô thị được tập trung chỉ đạo.

Ngành công nghiệp khai khoáng , sản xuất và phân phối điện  tăng mạnh so với cùng kỳ. Dự án công nghiệp trọng điểm được quan tâm chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ , một số dự án lớn khởi công, khởi động, như: Khu công nghiệp VSIP; Dự án nhà máy sản xuất ô tô điện VinFast Hà Tĩnh... Khu vực du lịch, dịch vụ tăng trưởng khá ổn định; Doanh thu bán lẻ hàng hóa , Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành  tiếp tục có mức tăng trưởng. Hoạt động xuất, nhập khẩu nhận được nhiều tín hiệu tích cực vào những tháng cuối năm, có dấu hiệu khả quan trong thời gian tới. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội vượt kế hoạch đề ra, tăng so với năm 2023 . Thị trường giá cả tiêu dùng chung cơ bản ổn định và tăng nhẹ. Thu ngân sách đảm bảo tiến độ, ước đạt 102% dự toán, trong đó thu nội địa ước đạt 9.600 tỷ đồng, đạt 119% dự toán, bằng 105% năm trước. Các dự án lớn, trọng điểm được tập trung chỉ đạo ; đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, kết quả giải ngân 10 tháng cao hơn bình quân chung cả nước  và cùng kỳ năm 2023 . Huy động vốn  và hoạt động tín dụng  trên địa bàn ước tăng so với cùng kỳ. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn...

Đại biểu tham dự kỳ họp

Bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất với những hạn chế theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh đã thẳng thắn chỉ ra và đề nghị quan tâm, tập trung đánh giá kỹ hơn một số vấn đề sau đây :

Tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch đề ra, qua theo dõi cho thấy mức tăng trưởng giảm dần trong năm , kinh tế của tỉnh nhà phụ thuộc nhiều vào công nghiệp chế biến chế tạo và nhập khẩu; chuyển dịch cơ cấu chậm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,84% so với cùng kỳ năm trước. Tổng trị giá xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2024 giảm 1,19% so với cùng kỳ , trong đó: Trị giá xuất khẩu giảm 3,45%, nhập khẩu giảm 37,88% so với cùng kỳ; xuất khẩu các sản phẩm truyền thống còn khó khăn. Chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 11 tăng so với cùng kỳ (tăng 6,63%), điều này cho thấy mức giá cả các loại mặt hàng đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; Thị trường vàng và ngoại tệ có những biến động lên xuống thất thường do chịu ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Xây dựng nông thôn mới, chỉnh trang, xây dựng và phát triển đô thị khó khăn về nguồn lực.

Thu nội địa đạt 119% dự toán, cao hơn năm trước ; Nhưng thu xuất nhập khẩu không đạt dự toán  và giảm so với năm trước , đây là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội khu vực nói chung và Hà Tĩnh nói riêng.Thu NSNN trên địa bàn chưa thực sự bền vững, còn phụ thuộc nhiều yếu tố, nhất là phụ thuộc thu từ các doanh nghiệp lớn.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết liệt trong điều hành NSNN nhằm tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư, song chi thường xuyên vẫn chiếm 57,2% tổng chi ngân sách địa phương ; Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn chậm so với kế hoạch và thấp hơn cùng kỳ năm trước, các dự án được hỗ trợ theo cơ chế xi măng tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 10%, còn nhiều dự án đến hết năm vẫn chưa giải ngân ; Lũy kế vốn ứng trước các cấp ngân sách chưa thu hồi còn cao . Tính đến ngày 28/11/2024 toàn tỉnh còn 2.367 tỷ đồng dư tạm ứng, trong đó số dư ứng quá hạn 72.647 triệu đồng thuộc 67 dự án của 23 chủ đầu tư.

Phân bổ kinh phí cho các đề án, chính sách do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành bằng 66% kế hoạch giao, tỉ lệ giải ngân đạt thấp thấp so với dự toán (đạt 45%). Ngoài 13 chính sách giải ngân tốt (trên 70%)  , vẫn còn nhiều chính sách có tỉ lệ giải ngân thấp, cụ thể: Có 11 chính sách giải ngân dưới 50%; 12 chính sách dưới 30%, có 09 chính sách không giải ngân được .

. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Số doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh, cấp mã số thuế nhiều  song  số ngừng, nghỉ hoạt động sản xuất kinh doanh lớn , chiếm 48% trong tổng số đơn vị được cấp mã số thuế. Tỷ lệ doanh nghiệp có kê khai phát sinh thuế  thấp so với doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 45%) và chiếm 23% trong tổng số doanh nghiệp được thành lập.

Công tác xây dựng, xác định giá đất cụ thể vẫn tiếp tục là điểm nghẽn; Các dự án có sử dụng đất chậm tiến độ chưa được giải quyết triệt để. công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư còn kéo dài.

Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 , Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất với 09 nhóm nhiệm vụ, giải pháp như báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đồng thời, bổ sung, nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Tiếp tục thực hiện, cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 01-NQ/ĐH của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; Nghị quyết số 249/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021-2025, các nghị quyết chuyên đề của Hội đồng nhân dân tỉnh và các giải pháp điều hành mà Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra cho năm 2025. Đảm bảo nguồn lực thực hiện các chế độ, chính sách an sinh xã hội và đời sống Nhân dân. Cân đối, bố trí kinh phí hợp lý và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện các chính sách, Đề án đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành.

Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao; nghiên cứu phát triển lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh.

. Đẩy nhanh thực hiện 05 chương trình trọng điểm, 03 đột phá chiến lược theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; các nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22/11/2021 về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đến năm 2025 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 09/NQ-TU ngày 22/11/2021 về phát triển Khu Kinh tế Vũng Áng giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội và Chương trình hành động số 17- CTr/TU ngày 30/9/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.

Chủ tọa kỳ họp

Tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ giải pháp phát triển kinh tế biển, nâng cao tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển vào GRDP của tỉnh theo mục tiêu tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quan tâm huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp ven biển.

. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, các Chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm. Chủ động xây dựng, điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn NSĐP năm 2025 bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, tuân thủ điều kiện, thứ tự ưu tiên theo quy định. Năm 2025 là năm cuối của Kế hoạch Đầu tư công trung hạn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025; vì vậy, cần đánh giá kết quả thực hiện và xây dựng kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030 theo đúng quy định.

Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp đang gặp khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển; Chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vực dậy thị trường vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp vay vốn để phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra, rà soát các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng và hồ sơ, thủ tục liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện dự án; hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục để ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động đối với các dự án đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng vẫn tiếp tục vi phạm theo đúng quy định của Luật Đầu tư, Luật Đất đai.

Tiếp tục thống kê, rà soát các doanh nghiệp thuộc các đối tượng được quy định tại Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ  để lựa chọn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực có lợi thế, tiềm năng tạo động lực tăng trưởng, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp. Hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp về thủ tục hành chính và tiếp cận các nguồn vốn vay theo chỉ đạo của Chính phủ và các cơ chế, chính sách của tỉnh

Thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí vào Ngân sách nhà nước, khai thác tốt nguồn thu hiện có, nhất là thuế nhà thầu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp ngoại tỉnh; thuế tài nguyên, phí môi trường các đơn vị khai thác tài nguyên khoáng sản phục vụ trong nội bộ dự án; rà soát các hộ kinh doanh để đưa vào diện quản lý thuế… Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước; triệt để tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên để dành cho chi đầu tư phát triển; kiểm soát bội chi, nợ công trong giới hạn an toàn; hạn chế tối đa việc chi chuyển nguồn.

Tập trung xử lý các tồn đọng về đất đai, khoáng sản; đẩy nhanh tiến độ công tác định giá đất. Kịp thời trình cấp có thẩm quyền ban hành hệ số điều chỉnh giá đất khi giá đất trên thị trường có biến động. Thực hiện có hiệu quả Đề án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo đã được UBND tỉnh phê duyệt.

Về các t ờ trình và dự thảo Nghị quyết trên lĩnh vực kinh tế và ngân sách, Ban cơ bản thống nhất với các nội dung của Tờ trình, Dự thảo Nghị quyết và có một số ý kiến cụ thể như sau:

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết Phân bổ và giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2025; Ban thống nhất đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua.

Năm 2025 là năm cuối thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2022-2025, do đó Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét việc rà soát, tổng hợp ngân sách (cấp huyện, cấp xã) của các địa phương không đảm bảo khả năng cân đối theo Nghị quyết số 41/2021/NQ-HĐND ngày 16/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh “Quy định về phân cấp nguồn thu, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu và phân cấp nhiệm vụ chi các cấp ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025; nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2022”, kịp thời báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách cấp huyện để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ sở (cấp xã).

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết Danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đợt 2 năm 2024. Ban đề nghị quan tâm một số nội dung sau:

Hiện nay, Chương trình phát triển nhà ở đang trình Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh tại kỳ họp này; Chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh đang dự kiến điều chỉnh trong thời gian tới. Vì vậy, tiếp tục rà soát đảm bảo phù hợp với tiêu chí này khi chương trình được điều chỉnh.

Nghiên cứu theo hướng đấu giá quyền sử dụng đất đối với các khu đất có lợi thế, chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng thấp.

Dự án Khu dân cư nông thôn làng sinh thái ven biển tại xã Đan Trường, Xuân Phổ, có khoảng 10ha chưa phù hợp quy hoạch; quy mô dự án lớn hơn Kế hoạch phát triển nhà ở tại Quyết định số 922/QĐ-UBND ngày 04/5/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh, cần rà soát điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, chương trình phát triển nhà ở theo đúng quy định.

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết nhiệm vụ Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Hạ Vàng, huyện Can Lộc, tỷ lệ 1/2.000. Ban thống nhất và đề nghị quan tâm:

Bổ sung đầy đủ yêu cầu về nội dung nhiệm vụ quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Hạ Vàng  theo  khoản 2 Điều 11 Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng.

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết Quyết định chế độ ưu đãi miễn tiền thuê đất đối với dự án sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất với việc điều  chỉnh tên Nghị quyết thành: “Nghị quyết Quyết định chế độ ưu đãi miễn tiền thuê đất đối với dự án sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”.

Bổ sung điều kiện, nguyên tắc áp dụng chế độ ưu đãi được hưởng chế độ ưu đãi miễn tiền thuê đất theo quy định pháp luật hiện hành.

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số khoản phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Ban thống nhất và đề nghị:  Bổ sung căn cứ pháp lý tại dự thảo Nghị quyết, gồm: Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai để đảm bảo đầy đủ.

Tại khoản 3 Điều 2 dự thảo Nghị quyết, việc tổ chức thực hiện mức thu lệ phí “0” đồng được áp dụng đến hết ngày 30/6/2026; để đảm bảo tính chặt chẽ, đề nghị bổ sung cụm từ: “Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh đối ứng hàng năm của từng Chương trình mục tiêu quốc gia chi tiết đến dự án thành phần . Ban thống nhất và đề nghị điều chỉnh tên Nghị quyết thành: “Nghị quyết phân cấp quyết định phân bổ chi tiết dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh”.

Bổ sung căn cứ pháp lý tại dự thảo Nghị quyết, gồm: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020.

Về Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết Cho ý kiến về Quy định mức tỷ lệ phần trăm (%) để tính đơn giá thuê đất hàng năm, thuê đất xây dựng công trình ngầm, thuê đất có mặt nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

Đối với quy định Mức tỷ lệ phần trăm (%) để tính đơn giá thuê đất trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm không thông qua hình thức đấu giá, theo dự thảo Thị xã Kỳ Anh (tỷ lệ 1,0%) và các huyện còn lại (tỷ lệ 0,75%) đang quy định cùng một hệ số ; cần xem xét vị trí bám mặt tiền các tuyến đường có khả năng sinh lợi (như bám đường Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện) để quy định tỷ lệ phù hợp.

BBT