Các điểm mới về quyền bảo đảm an sinh xã hội, quyền làm việc trong Hiến pháp mới
EmailPrintAa
10:05 03/03/2014

Một số nội dung và tinh thần mới cơ bản của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II) Về quyền bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34) Về quyền lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động trong Hiến pháp năm 2013

1. Một số nội dung và tinh thần mới cơ bản của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II)

Trong Chương II - Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân có một số nội dung mới sau đây: chuyển từ Chương V (Hiến pháp năm 1992) lên Chương II với nhận thức mới; có những nguyên tắc mới như: ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (khoản 1 Điều 14); Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng (khoản 2 Điều 14). Các nguyên tắc này đề cao trách nhiệm của Nhà nước và đề cao quyền con người, quyền công dân.

Có những quyền mới thể hiện bước phát triển của quyền ở nước ta. Ví dụ Điều 34: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Điều 41: Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. Điều 42: Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, sử dụng ngôn ngữ giao tiếp. Điều 43: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

Hiến pháp mới cũng phân biệt quyền con người với quyền công dân. Và có các quy định phù hợp với các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên. Ví dụ Điều 31: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Với các quyền về kinh tế, xã hội, trong Hiến pháp mới lần này chỉ quy định nội dung của các quyền, không quy định chính sách và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện những quyền này. Những vấn đề đó được chuyển sang Chương III - Kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường.

2. Về quyền bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34)

Đây là một quyền mới mà các bản Hiến pháp trước đây không quy định. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì công dân có quyền này là một tất yếu. Bởi an sinh xã hội là một hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý nhằm tránh cho mọi người khỏi rơi vào tình trạng nghèo hoặc cứ nghèo mãi. Một hệ thống an sinh dựa trên quy chế công dân, một số khác thì dựa trên nơi cư trú của người thụ hưởng (Từ điển Xã hội học). Để thực hiện được quyền này, trước hết cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội. Nên chăng cần ban hành Luật về an sinh xã hội nhằm hình thành một hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý để bảo đảm cho công dân thực hiện được quyền này. Cùng với Điều 34 quy định về công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội, Hiến pháp còn quy định ở Điều 59, khoản 2: Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội...

3. Về quyền lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động trong Hiến pháp năm 2013

Điều 35 Hiến pháp mới quy định về quyền làm việc của công dân, đây là điểm khác so với Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 quy định nội dung này ở hai điều, Điều 55 và Điều 56, với nội dung cơ bản là quy định trách nhiệm của Nhà nước như: Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động (Điều 55); và Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động. Hiến pháp năm 2013 chỉ có một điều tập trung quy định về quyền làm việc của công dân, còn những chính sách, quan điểm, trách nhiệm của Nhà nước thì đưa vào  Chương III - Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường. Theo đó, Điều 35 quy định về quyền của công dân như sau:

1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc;

2. Người làm công ăn lương được đảm bảo các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi;

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.

Còn về chính sách và trách nhiệm của Nhà nước được quy định ở Chương III. Điều 57:

1. Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động;

2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Cùng với điều trên khoản 2, Điều 59 quy định chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội.

4. Từ các quy định nói trên có thể rút ra một số nhận xét sau đây, một là, xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền mới của công dân là: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34). Quyền mới này là cơ sở hiến định để công dân bảo đảm có được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đói khi không có việc làm hoặc không có thu nhập. Đây cũng là cơ sở hiến định để Nhà nước xây dựng một hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền về an sinh xã hội. So với các quyền khác của công dân, thì quyền bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện, trở thành hiện thực chỉ khi Nhà nước xây dựng được một hệ thống duy trì thu nhập. Vì vậy, Nhà nước có vai trò quyết định trong việc thực hiện quyền này của công dân. Chính vì thế, cùng với Điều 34, ở Điều 59 (Chương III) còn quy định: Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội.

Hai là, công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc là quyền cơ bản của công dân. Để quyền này được thực hiện, ngoài vai trò quyết định của bản thân công dân, trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò quan trọng. Theo đó, ngoài Điều 35, tại Điều 57 (Chương III) quy định:

1. Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân, tạo việc làm cho người lao động. 2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Đồng thời, để bảo đảm cho công dân có quyền, làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm, Hiến pháp còn quy định người sử dụng lao động phải bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương và chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 không những quy định quyền của công dân mà còn quy định các bảo đảm để cho công dân có điều kiện để thực hiện quyền trong đó có trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động. Những nội dung mới nói trên cần phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật, thì công dân mới có điều kiện thực hiện được quyền làm việc.