Về một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở nước ta
EmailPrintAa
13:44 12/02/2015

Năm 2015, nhân dân ta kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (2.9.1945-2.9.2015). Trong 70 năm xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở nước ta có rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, để lại dấu ấn không phai mờ, trong đó có cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946. Dù ở nước ta đến nay các thế hệ cử tri đã đi bầu ĐBQH 13 khóa, nhưng cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946 đã khẳng định ý nghĩa lịch sử vẻ vang có một không hai l�tỏ cho thế giới biết rằng, dân tộc Việt Nam đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ/ Kiên quyết chống bọn thực dân/ Kiên quyết tranh quyền độc lập và nước Việt Nam sự thật đã thành một nước tự do độc lập.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng diễn ra cách đây gần 70 năm, nhưng về mặt pháp lý đã, đang và mãi mãi hiện lên như một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng Nhà nước của nhân dân ta vì đã để lại những bài học vô cùng quý giá cho việc tổ chức các cuộc bầu cử sau này và tới đây là cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XIV để chọn được những người có đức, có tài ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, mưu sự hạnh phúc cho đồng bào, luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Trước hết cần thấy rằng, để có căn cứ pháp lý và bảo đảm tính hợp pháp cho việc tiến hành cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu chuẩn bị kỹ và rất sớm để trình Người ký ban hành nhiều sắc lệnh quy định về Tổng tuyển cử. Nội dung và việc tổ chức thực hiện các sắc lệnh này cho thấy, do có những nhận định và phân tích tình hình trong và ngoài nước rất sáng suốt và đúng đắn, đồng thời với sự hiểu biết rất sâu sắc về Nhà nước pháp quyền nên chỉ sau một ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước thế giới là nhân dân Việt Nam đã giành được chính quyền (ngày 2.9.1945) thì ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra QH, QH sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân. Đây chính là cách thức hợp pháp hóa chính quyền cách mạng của nhân dân theo đúng quy trình, thủ tục đã được các nước tiên tiến trên thế giới thừa nhận. Và chỉ 5 ngày sau, trên cương vị là Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14/SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu QH. Trong Sắc lệnh này ghi rõ: xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm. Tại Điều 1 của Sắc lệnh quy định: trong một thời hạn 2 tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội. Sau đó, ngày 17.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 51/SL quy định trình tự, thủ tục cụ thể để tiến hành bầu cử đại biểu vào Quốc dân đại hội. Sắc lệnh này có ý nghĩa pháp lý như các Luật Bầu cử ĐBQH được QH các khóa thông qua vào những năm sau đó. Tuy cũng đề cập những vấn đề cơ bản về bầu cử nhưng trong Sắc lệnh số 51/SL lại có những nội dung quy định khác với Luật Bầu cử ĐBQH hiện hành. (Chúng tôi chỉ phân tích so sánh với Luật Bầu cử ĐBQH hiện hành để bài viết được ngắn gọn và dễ trình bày). Ngay về ngày bầu cử và việc người ứng cử nộp đơn tưởng như là những quy định rất giản đơn nhưng vào thời gian đó không thể không xem xét kỹ. Điều thứ 1 của Sắc lệnh số 51/SL quy định: Ngày 23.12.1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn cõi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bầu đại biểu dự vào Quốc dân đại hội. Còn Điều thứ 11 quy định: Chậm nhất là 15 ngày trước ngày bỏ phiếu, người ứng cử phải gửi thẳng lên Ủy ban nhân dân tỉnh (tỉnh nơi mà mình ra ứng cử) (hay thành phố) đơn ứng cử (có ghi rõ địa chỉ) kèm theo một tờ giấy của Ủy ban nhân dân địa phương (nguyên quán hoặc nơi trú ngụ) chứng nhận là đủ điều kiện ứng cử. Nội dung hai điều này rất rõ ràng và cụ thể, nhưng với tinh thần thực sự cầu người hiền tài ra gánh vác việc nước vàbảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao giữa các phe phái, dân tộc, vùng miền và cũng xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước lúc đó nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 71/SL ngày 2.12.1945 quyết định lùi ngày bầu cử sang năm 1946 vào ngày 6 tháng Giêng vì xét thấy có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng không đủ thì giờ nộp đơn và vận động.Sau đó Người lại ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 18.12.1945 sửa đổi việc nộp đơn ứng cử như sau: người ứng cử có thể gửi đơn ứng cử ngay cho UBND nơi mình trú ngụ, và yêu cầu UBND ấy điện cho UBND nơi mình xin ứng cử vì thấy rằng sự giao thông hiện thời khó khăn. Những lý do đưa ra để sửa đổi hai điều trên đây đã thể hiện rõ nguyên tắc tự do, dân chủ và bình đẳng của cuộc Tổng tuyển cử để cử tri thực hiện quyền ứng cử của mình. Tiếp theo là việc lập danh sách người ứng cử cũng rất đơn giản và nhanh chóng. Sau khi nhận được đơn của người ứng cử đã theo đúng quy định tại Điều thứ 11 Sắc lệnh số 51/SL thì UBND tỉnh hay thành phố phải niêm yết danh sách những người ứng cử tại nơi công cộng. (Điều thứ 14 và Điều thứ 15 Sắc lệnh số 51/SL). Những quy định về ứng cử và lập danh sách những người ứng cử đơn giản và thuận lợi như vậy nên số người ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946 rất nhiều. Chúng tôi không có số liệu chung trong cả nước mà chỉ biết riêng ở Hà Nội có 74 ứng cử viên để cử tri lựa chọn bầu 6 ĐBQH; ở tỉnh Quảng Nam có 78 ứng cử viên để cử tri lựa chọn bầu 15 ĐBQH. (Xin lưu ý có sự chênh lệch về số ĐBQH ở hai đơn vị bầu cử như vậy là căn cứ vào Điều thứ 9 Sắc lệnh số 51/SL quy định số ĐBQH được bầu cử ở mỗi tỉnh, thành phố theo tỷ lệ tính theo dân số của tỉnh, thành phố đó). Việc xem xét giải quyết khiếu nại của những người ứng cử và tố cáo đối với họ chúng tôi sẽ bình luận và so sánh với Luật Bầu cử hiện hành ở phần sau để thuận tiện cho việc theo dõi. Về những vấn đề nộp đơn ứng cử và lập danh sách những người ứng cử sau đó cũng được quy định trong các Luật Bầu cử ĐBQH nhưng rất chặt chẽ và qua nhiều Hội nghị nên số người tự ứng cử được đưa vào danh sách những người ứng cử rất ít và số người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH lại càng ít hơn, cụ thể là, trong cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XII đã có 238 người nộp đơn tự ứng cử, chứ không phải những người được giới thiệu ra ứng cử, thì qua các Hội nghị cử tri ở nơi cư trú bỏ phiếu tín nhiệm và qua các Hội nghị hiệp thương chỉ còn lại 30 người được ghi vào danh sách chính thức những người ứng cử và cuối cùng chỉ có 1 người trúng cử ĐBQH Khóa XII. Bởi vì theo quy định của Luật Bầu cử hiện hành tại Chương V về ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử thì người ứng cử phải nộp hồ sơ gồm một số bản kê khai cùng với đơn ứng cử đến Hội đồng Bầu cử Trung ương nếu là người do các cơ quan, tổ chức, đoàn thể ở địa phương giới thiệu ra ứng cử hoặc là người tự ứng cử chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử để được chuyển đến các cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở Trung ương và địa phương đưa vào danh sách hiệp thương (Điều 28 Luật Bầu cử). Việc đưa người ứng cử (kể cả người được giới thiệu ra ứng cử và người tự ứng cử) vào danh sách hiệp thương phải căn cứ vào dự kiến của UBTVQH về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm ĐBQH (Điều 30 và 31 Luật Bầu cử). Tiếp theo là 14 điều (từ Điều 33 đến Điều 46) quy định rất cụ thể và chi tiết về 3 Hội nghị hiệp thương; về UBTVQH điều chỉnh dự kiến cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử; về Hội nghị cử tri nơi người ứng cử cư trú và làm việc để xem xét, bày tỏ sự tín nhiệm và cách biểu quyết về tín nhiệm đối với người ứng cử; về xem xét, giải quyết những vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử để đi đến Điều 47 quy định niêm yết danh sách người ứng cử tại địa phương. Chúng tôi thấy những quy định này quá chặt chẽ và phức tạp như một cuộc bầu cử ĐBQH của những đại cử tri là các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị ở nước ta để lựa chọn đưa ra một danh sách những người ứng cử mà có ý kiến nhận xét là gồm quân xanh, quân đỏ để cử tri bầu ĐBQH. Có ý kiến khác lại cho rằng, đây là việc Đảng cử, dân bầu, còn MTTQ tổ chức các cuộc Hội nghị hiệp thương là việc làm có tính hình thức vì cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử đã được định trước, cụ thể là số người trong danh sách ứng cử ĐBQH ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu 3 đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là 2 người. Danh sách này do Hội đồng bầu cử quyết định (Điều 46 Luật Bầu cử) mà thành phần Hội đồng bầu cử lại do UBTVQH thành lập gồm Chủ tịch QH, các Phó chủ tịch QH, Tổng thư ký và các Ủy viên là đại diện UBTVQH, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan (theo Điều 14 Luật Bầu cử thì số dư ở mỗi đơn vị bầu cử chắc hẳn là không nhiều vì đã chốt trước số người ứng cử và số ĐBQH được bầu (hai con số này trong cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XIII là 827 và 500).

Về đơn vị bầu cử và kiểm soát bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946 cũng cho chúng ta những bài học có giá trị pháp lý và tính hợp lý rất cao cần được nghiên cứu để sửa những quy định tương ứng trong Luật Bầu cử hiện hành.

Mặc dù vào những năm 40 của thế kỷ trước, đất nước ta đang đứng trước muôn vàn khó khăn và phức tạp, các thế lực thù địch cùng với giặc ngoại xâm chống phá cuộc Tổng tuyển cử rất gay gắt và quyết liệt cả bằng bom, đạn nhưng với niềm tin vào lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần kiên quyết đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban bố các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử trong đó có những quy định rất sáng suốt và táo bạo như đơn vị tuyển cử là tỉnh, nghĩa là dân trong một tỉnh bầu thẳng đại biểu tỉnh mình vào Quốc dân đại hội” (Điều thứ 7 của Sắc lệnh số 51/SL). Song quy định này lại không được kế thừa trong Luật Bầu cử hiện hành nên tại Điều 7 Luật này đã quy định:ĐBQH được bầu theo đơn vị bầu cử. Ở mỗi đơn vị bầu cử được bầu không quá 3 đại biểu. Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được chia thành nhiều đơn vị bầu cử. Do đó, trong cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XII cả nước có 182 đơn vị bầu cử, TP Hồ Chí Minh có 9 đơn vị bầu cử (nhiều nhất trong cả nước), còn ở các tỉnh nhỏ thì chỉ có 2 đơn vị bầu cử. Trong thực tế, quy định này đã tạo ra hai vấn đề vướng mắc chưa được giải quyết sau đây:

Một là, tuy cùng được giới thiệu ra ứng cử ở một tỉnh hay thành phố trực thuộc Trung ương nhưng lại có người tìm cách được đưa về đơn vị bầu cử có số cử tri ít hiểu biết về mình hay còn gọi là thuần hơn để tránh rủi ro không được tỷ lệ phiếu bầu cao, có khi còn bị trượt. Mặc khác, việc chia tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra làm nhiều đơn vị bầu cử như vậy về mặt pháp lý là chưa phù hợp khi một đại biểu được bầu ở một đơn vị thì vị đại biểu đó không được cử tri ở các đơn vị khác biết đến mà lại nhân danh là ĐBQH của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Hai là, trong thực tế đã có trường hợp ở một tỉnh có hai đơn vị bầu cử, cử tri ở mỗi đơn vị được lựa chọn bầu 3 ĐBQH trong số 5 người ứng cử, thì ở đơn vị bầu cử số 1 có 4 người được trên 50% phiếu bầu nhưng vì chỉ được bầu 3 đại biểu nên người thứ tư tuy được trên 50% phiếu bầu song ít hơn 3 người kia nên không được trúng cử ĐBQH; còn ở đơn vị bầu cử thứ hai chỉ có 2 người trên 50% phiếu bầu thì trúng cử ĐBQH. Do đó ở tỉnh này bầu thiếu 1 ĐBQH mặc dù có người ứng cử ở 1 đơn vị bầu cử trong tỉnh đạt trên 50% phiếu bầu. Và từ đây còn có thể suy ra phiếu bầu ở đơn vị bầu cử số 1 không có giá trị bằng phiếu bầu ở đơn vị bầu cử số 2 dù cùng trong một tỉnh.

Xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước hiện nay, cùng với những nội dung trình bày trên đây chúng tôi đề nghị sửa Luật Bầu cử hiện hành theo hướng quy định như Điều 7 Sắc lệnh số 51/SL là đơn vị bầu cử là tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nhân đây, chúng tôi cũng đề nghị xem xét lại quyết định tổ chức việc bỏ phiếu bầu ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp vào cùng một ngày tuy có đỡ tốn kém cho ngân sách nhà nước nhưng cử tri lại gặp nhiều khó khăn là phải lựa chọn nhiều đại biểu của mình ở các cấp khác nhau và mặt khác cũng làm giảm ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử bầu ĐBQH như chúng tôi đã trình bày ở phần trên.

Một số nội dung khác trong các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử cũng rất cần được nghiên cứu tham khảo là những quy định về kiểm soát cuộc bầu toàn tỉnh (hay thành phố). Tại Điều thứ 53 của Sắc lệnh số 51/SL quy định: UBND tỉnh (chứ không phải tỉnh lỵ) triệu tập một ban kiểm soát cuộc bầu cử toàn tỉnh. Ban này gồm có một đại diện của UBND tỉnh và những đại biểu của các giới trong tỉnh (nông dân, công nhân, thương nhân, phụ nữ, phụ lão, thanh niên v.v...).

Những người trong Ban Kiểm soát này phải toàn là những người không ra ứng cử. Ban Kiểm soát cuộc bầu cử toàn tỉnh là một cơ quan độc lập, không thuộc quyền UBND tỉnh, thành phố có những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1) Thu thập và làm biên bản thống kê phiếu đã bầu của cử tri trong toàn tỉnh, thành phố;

2) Nhận đơn khiếu nại và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn phải xem xét giải quyết dứt điểm. Quyết định của Ban Kiểm soát bầu cử toàn tỉnh giải quyết khiếu nại là quyết định cuối cùng.

3) Lập danh sách những người trúng cử gửi lên Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho niêm yết danh sách những người thuộc đơn vị bầu cử của mình đã trúng cử ở những nơi công cộng trong toàn tỉnh, thành phố.

Sau khi nhận đủ danh sách những người đã trúng cử đại biểu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do các Ban Kiểm soát bầu cử gửi lên thì Chính phủ định ngày triệu tập Quốc dân đại hội.

Nhiều quy định trên đây không được kế thừa trong Luật Bầu cử hiện hành nên trong các cuộc bầu cử ĐBQH các khóa vừa qua đã có những vấn đề giải quyết không hợp lý hoặc không được giải quyết. Đó là hai vấn đề liên quan đến hai nội dung chúng tôi là gạch dưới để lưu ý ở phần trên.

Vấn đề thứ nhất là, thành phần Hội đồng bầu cử ở Trung ương và Ủy ban Bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo quy định tại Điều 14 của Luật Bầu cử hiện hành thì UBTVQH thành lập Hội đồng Bầu cử ở Trung ương gồm Chủ tịch QH, các Phó chủ tịch QH, Tổng thư ký và các Ủy viên là đại diện UBTVQH, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan; còn về Ủy ban Bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Điều 15 quy định do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Trong khi đó, cũng tại hai điều này lại quy định Hội đồng Bầu cử và Ủy ban Bầu cử đều có nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử ĐBQH. Vì không có một nội dung quan trọng đã quy định tại Điều 53 của Sắc lệnh số 51/SL mà chúng tôi đã gạch dưới để lưu ý, nên trong Hội đồng Bầu cử và Ủy ban Bầu cử ĐBQH có nhiều thành viên là người ứng cử. Vậy nếu họ bị khiếu nại, tố cáo mà lại giao cho chính một trong hai cơ quan đó xem xét, giải quyết thì liệu có khách quan và hợp lý hay không?

Vấn đề thứ hai là, theo quy định tại khoản 2 và khoản 4, Điều 49 của Luật Bầu cử hiện hành thì trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử ngưng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; Hội đồng Bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến UBTVQH khóa mới để giải quyết theo thẩm quyền. Thực tế cho thấy, trong các cuộc bầu cử ĐBQH gần đây các Hội đồng Bầu cử đã thực hiện đúng nhưng chưa UBTVQH khóa nào thực hiện đúng quy định này. Chẳng hạn, Hội đồng Bầu cử ĐBQH Khóa XII đã chuyển đến UBTVQH khóa này 108 đơn tố cáo 21 ứng cử viên chưa được giải quyết, trong đó có 20 người đã trúng cử ĐBQH. Trong cuộc bầu cử ĐBQH Khóa XI cũng đãngưng đối với 7 ứng cử viên, sau đó 1 người đã trúng cử ĐBQH nhưng vẫn bị tố cáo gay gắt, quyết liệt là đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Mặc dù đã được công nhận là ĐBQH Khóa XI nhưng vì có cơ quan vẫn đề nghị xem xét tư cách đại biểu của người này nên UBTVQH Khóa XI đã đưa ra xem xét và thấy những tố cáo là đúng sự thật, nếu xem xét kịp thời trước khi bầu cử thì sẽ không đưa người này vào danh sách ứng cử để cử tri lựa chọn. Nay người này đã được công nhận đủ tư cách đại biểu lại vừa tham gia Kỳ họp thứ Nhất của QH Khóa XI thì phải xem xét theo trình tự, thủ tục bãi nhiệm. Xét về nhiều mặt thấy không có lợi cho việc chung nên UBTVQH đã đề nghị cơ quan chủ quản xem xét xử lý về mặt hành chính. Cũng liên quan đến nội dung này còn một quy định khác nữa trong pháp luật hiện hành không hợp lý là Điều 24 của nội quy Kỳ họp QH được ban hành kèm theo Nghị quyết số 07/2002/QH11 của Kỳ họp thứ Hai, QH Khóa XI ngày 16.12.2002 đã quy định: tại Kỳ họp thứ Nhất của QH mỗi khóa, trong phiên họp đầu tiên QH bầu Ủy ban Thẩm tra tư cách ĐBQH gồm Chủ nhiệm, một Phó chủ nhiệm và các thành viên khác trong số những người trúng cử ĐBQH theo danh sách do Chủ tịch QH khóa trước giới thiệu; căn cứ vào biên bản kết quả bầu cử và các tài liệu khác có liên quan đến cuộc bầu cử, Ủy ban Thẩm tra tư cách ĐBQH tiến hành thẩm tra tư cách đại biểu của những người trúng cử và báo cáo kết quả để QH quyết định; QH thảo luận, thông qua Nghị quyết xác nhận tư cách đại biểu của các ĐBQH hoặc tuyên bố những trường hợp cá biệt mà việc bầu cử ĐBQH không có giá trị. Quy định này còn hình thức và không hợp lý vì chỉ trong thời gian ngắn như vậy đã giao cho những người chưa được QH xác nhận là đủ tư cách ĐBQH lại thẩm tra tư cách ĐBQH của hàng trăm người khác đã được bầu làm ĐBQH. Bởi vậy, chúng tôi đề nghị sửa những quy định trong pháp luật hiện hành về Hội đồng Bầu cử Quốc gia có nhiệm vụ xem xét, giải quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo đối với những người ứng cử và cả những người đã được cử tri bầu làm ĐBQH và báo cáo với QH khóa mới tại phiên họp đầu tiên của Kỳ họp thứ Nhất về kết quả bầu cử, trong đó có cả nội dung về tư cách đại biểu của những người đã trúng cử.

Trên đây chúng tôi đã trình bày và phân tích một số nội dung trong các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử năm 1946 cùng với việc thực hiện các Sắc lệnh đó. Tuy chưa thật đầy đủ và toàn diện về mọi mặt nhưng xét về mặt pháp lý, chúng tôi thấy có thể khẳng định rằng, cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo và tổ chức thực hiện thực sự là một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở nước ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy độc lập cho Tổ quốc. Thời gian sẽ trôi đi nhưng mốc son chói lọi đó do nhân dân ta tạo nên dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sẽ trường tồn trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam chúng ta.

* Những câu và đoạn trích dẫn trong bài này đều có nguồn chính xác nhưng vì khuôn khổ của bài báo và để việc tra cứu được thuận tiện chúng tôi không ghi cụ thể số trang dòng theo tài liệu gốc mà dẫn theo cuốn Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960 do VPQH biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 1994; cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh với QH và HĐND do VPQH biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2001 và cuốnQuốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển (Kỷ yếu Hội thảo) do VPQH biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2006.